KINH CHÁNH PHÁP ĐẠI TẬP HỘI- SANGHATA SUTTA

GIỚI THIỆU KINH SANGHATA

Gần đây, Lama Zopa Rinpoche đề nghị các Trung Tâm Bảo Tồn Phật Giáo Ðại Thừa (FPMT centres) đọc tụng bộ kinh Ðại thừa tên Sanghata, 20 lần. Chỉ cần nghe qua, đọc tụng kinh này là gặt hái được cả một kho tàng công đức đồ sộ, vì vậy Lama Zopa Rinpoche khuyên Phật tử nên đọc để hồi hướng công đức cho Công Trình Xây Tượng Phật Di Lạc (Maitreya Project). Và rồi chính Công Trình Xây Tượng Phật Di Lạc sẽ mang lại công đức đồ sộ cho vô lượng chúng sinh.

Kinh Sanghata do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng trên đỉnh núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Kinh này cũng như mọi bộ kinh Ðại thừa khác, được các đệ tử của Phật ghi nhớ rồi chép lại bằng tiếng Phạn. Kinh Sanghata đặc biệt là vì kinh này do đức Thích Ca Mâu Ni thọ nhận từ đức Phật quá khứ, đồng thời tác dụng của kinh này đối với người đọc tụng cũng đặc biệt lớn lao.

Kinh Sanghata là một trong những bộ kinh thuộc hệ Dharma-paryayas, có khả năng chuyển hóa tâm thức người đọc một cách mạnh mẽ dị thường. Một trong những lợi ích vĩ đại của kinh này là người nào đã từng đọc tụng kinh Sanghata, đến khi chết sẽ thấy chư Phật đến an ủi tiếp dẫn trong quá trình vào cõi tử. Ngoài ra, còn một lợi ích lớn lao khác, kinh văn có nói rõ: nơi nào có kinh Sanghata, Phật ở ngay nơi ấy. Vậy đọc tụng kinh này còn có tác dụng thanh tịnh cảnh giới bên ngoài, ngay chốn kinh này được đọc tụng.

Nhìn chung mà nói, đọc tụng kinh điển Ðại thừa là một trong sáu phương pháp sám hối. Kinh này đặc biệt có khả năng thanh tịnh nghiệp thức nhiều đời. Phật có giải thích phong phú trong kinh văn là đọc tụng kinh này thì đoạn diệt mọi chủng nghiệp phiền não, gieo hạt giống an lạc cho tương lai, mãi đến tận quả vị Phật đà. Kinh cũng giảng giải phong phú về quá trình vào cõi tử, khi các thành phần tâm lý và vật lý lần lượt hoại diệt.

Khi xưa, trong nhiều thế kỷ, Sanghata đã từng là một trong những bộ kinh phổ biến nhất. Vào những năm 1930, các nhà khảo cổ đào ở phía Bắc Pakistan thuộc địa của Anh quốc, tìm được cả một kho kinh điển Phật giáo của thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, xưa hơn những gì kiếm ra trong các cuộc khảo cổ trước đây rất nhiều. Trong số những bộ kinh tìm thấy, Sanghata được ghi chép nhiều nhất, hơn cả Pháp Hoa hay Kim Cương hay những bộ kinh thuộc hệ Bát Nhã hiện nay đang phổ biến. Kinh Sanghata vào thời phôi thai của Phật giáo Ðại thừa đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: tiếng Tàu, tiếng Khotanese, tiếng Tây Tạng, còn nguyên bản tiếng Phạn thì thất lạc. Phải đợi đến đợt khám phá cổ học vào thập niên 1930, nguyên văn Phạn tự mới được tìm thấy.

Gần đây, ở chùa của Geshe Sopa tại Madison, Lama Zopa Rinpoche sau khi đọc xong kinh Sanghata đã quyết định lấy mực vàng ròng chép lại bộ kinh này, đồng thời khuyến khích đệ tử thường xuyên đọc tụng. Vào dịp kỷ niệm trận khủng bố New York ngày 11 tháng 9, Rinpoche yêu cầu đệ tử trên toàn thế giới
đọc tụng kinh này càng nhiều càng tốt để hồi hướng công đức, cầu nguyện nạn khủng bố chấm dứt.

Bộ kinh này có khả năng tác động mạnh mẽ lên tâm thức. Người đọc tụng có thể thấy được rất rõ tấm lòng từ bi vô hạn của Phật đối với chúng sinh. Phật nói kinh này để giúp chúng sinh mau chóng thành tựu viên mãn Vô Thượng Bồ Ðề. Ðồng thời, nhiều đoạn dài trong kinh là lời Phật nói, nên khi đọc cũng là mang giọng nói của mình làm sống lại tiếng lời của Phật trong thế giới hôm nay. Ðọc Sanghata, không những chúng ta gặt hái được cho mình một kho tàng công đức đồ sộ, mà còn trực tiếp và tinh tấn góp phần bảo vệ chánh pháp.
Ðây cũng là điều cần thiết, có thể làm nhẹ bớt được gánh nặng khổ đau của chúng sinh.

LAMA ZOPA RINPOCHE VÀ KINH CHÁNH PHÁP SANGHATA

Dưới đây là lời của Ven. Lhundrup Damcho, kể lại câu chuyện Lama Zopa Rinpoche và kinh Sanghata.

Lúc ấy tôi có ý định mang bản tiếng Tạng của kinh Sanghata tặng cho Lama Zopa Rinpoche, vì vậy đã để kinh ấy trên bàn nơi hành lang trước phòng Rinpoche. Chưa kịp đàng hoàng trao tặng – nói cho thật đúng, tôi chưa chuẩn bị xong trang bìa cũng chưa kịp dùng lụa bọc kinh cho cẩn thận – Rinpoche đã bắt gặp cuốn kinh, tỏ ý muốn xem ngay. Rinpoche đọc lướt qua, nói với chúng tôi rằng, “Kinh Sanghata nói chỉ cần nghe kinh này là có được kho tàng công đức của Như lai, như vậy có nghĩa là đã thu tóm đầy đủ cả hai bồ công đức phước tuệ, cũng có nghĩa là đã thành một bậc Như Lai. Việc này thoạt nghe không hợp lý.” Rinpoche ngẩng đầu lên, đề nghị nên hiểu là khi nghe được kinh này, người nghe kinh sẽ có khả năng tiếp tục gặt hái công đức cho đến khi gom đủ cả kho tàng công đức đồ sộ được diễn tả trong kinh. Cần hiểu như vậy để khỏi thấy kinh này nói chuyện vô lý khó tin.

Rinpoche đọc tiếp nhiều đoạn trong kinh, rồi nói rằng kinh này cho mình cảm nhận rõ ràng lòng từ bi của Phật. Chúng ta thường luôn cảm thấy chánh pháp khó tu, khó thực hành. Dù gặp được chánh pháp, vẫn không có thời gian để tu học; hoặc là tu học được ít hôm, rồi xao lãng; hoặc sinh ra trong truyền thống Phật giáo, nhưng lại kiếm tìm loanh quanh. Ở đây, Phật muốn giúp cho chúng ta dễ tu, nên thuyết kinh này để chúng ta nghe rồi có được kho tàng công đức đồ sộ. Nhờ vậy mà dễ tu, dễ làm việc lợi ích chúng sinh, dễ thành Phật và dễ giúp chúng sinh cùng thành Phật. Rinpoche nói, được như vậy là nhờ vào những bộ kinh như kinh này. Lòng từ bi của Phật thật khó mà tưởng tượng cho hết. Rinpoche cũng có nói ngài đã thức trọn đêm để đọc hết quyển kinh, và đó là điều rất đáng nói, vì bình thường ít khi nào Rinpoche làm xong ngay việc gì.

Rinpoche cũng có nói về kinh nghiệm của Rinpoche khi đọc Sanghata. Nói rằng lúc đọc xong phần diễn tả về công đức nghe kinh, ngài bắt đầu tìm coi đâu là nền tảng, đâu là đặc tính cố định trong kinh có thể cho ra cả một kho tàng công đức đồ sộ như vậy. Vừa nói, Rinpoche đưa tay làm dấu, như muốn nắm bắt lấy phần tinh túy đang vuột thoát. Rồi Rinpoche tự cười chính mình, đã cố tìm đặc tính cố định của kinh. Rinpoche có giải thích rằng nhiều kinh Ðại thừa mới đầu diễn tả rất phong phú về lợi ích của kinh, sau đó cho một câu thần chú làm nền tảng chuyên chở công đức. Nhưng kinh Sanghata này thì không như vậy. Hình như chính sự diễn tả về lợi ích của kinh Sanghata đã là nền tảng chứa đựng toàn thể công đức. Ðến sáng sớm ngày hôm sau, Rinpoche nói Rinpoche vừa nghĩ ra một việc: Phật có khả năng truyền năng lực hộ niệm cho đá sỏi hay những đồ vật vô tri khác, rồi từ đó con người nhận lại nguồn năng lực của chư Phật. Vậy Phật cũng có thể làm như vậy với kinh này. Nếu vậy thì chức năng của kinh không khác chức năng của Phật, cùng có khả năng hộ niệm và tạo lợi ích như nhau. Giải thích như vậy rồi, Rinoche lại nói thêm rằng sau khi đọc kinh xong, Rinpoche ngồi thiền thấy có nhiều tiến bộ khả quan, đó cũng nhờ tác dụng của kinh Sanghata.

Mời bạn download bản kinh bằng tiếng Việt Ở đây 

Nguồn: http://www.sanghatasutra.net/

KINH: CHÁNH PHÁP ĐẠI TẬP HỘI

(SANGHATA)

Bản Việt dịch của Hồng Như Anh Hồ

Tựa đề tiếng Phạn:

Arya Sanghatasutra dharmma-paryaya

Tựa đề tiếng Tạng:

Phag pa zung gi do’i cho kyi nam trang

Tựa đề tiếng Anh:

The Noble Mahayana Sanghatasutra Dharma-Paryaya

—o0o—
Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn trên đỉnh Linh Thứu, thành Vương Xá, cùng với 32 ngàn vị đại tỳ kheo, toàn là bậc đại A la hán, trong đó có :

Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như [Ajñáta-kaundínya]
Tôn giả Đại Mục Kiền Liên [Maha-maudgalyáyana]
Tôn giả Xá Lợi Phất [Shariputra],
Tôn giả Ðại Ca Diếp [Mahakashyapa],
Tôn giả La Hầu La [Rahula],
Tôn giả Bạt Câu La [Bakkula],
Tôn giả Hiền Hộ [Bhadrapàla],
Tôn giả Hiền Kiết Tường [Bhadrashri],
Tôn giả Chiên Ðàn Kiết Tường [Chandranashri],
Tôn giả Jang-gu-la [Jangula ],
Tôn giả Tu Bồ Ðề [Subhuti],
Tôn giả Li Bà Da [Revata],
Tôn giả Nan Ðà Quân [Nandasena],
Tôn giả A Nan [Ananda];

cùng với 62 ngàn vị đại bồ tát, trong đó có:

Đại bồ tát Từ Thị [Maitreya],
Đại bồ tát Phổ Dũng [Sarvashura],
Đại bồ tát Ðồng Tử Kiế t Tường [Kumarashri],
Đại bồ tát Ðồng Tử Trụ [Kumaravasin],
Đại bồ tát Ðồng Tử Hiền [Kumarabhadra],
Đại bồ tát A-nu-na [Anuna],
Đại bồ tát Văn Thù [Manjushri],
Đại bồ tát Phổ Hiền [Samantabhadra],
Đại bồ tát Thiện Kiến [Sudarshana],
Đại bồ tát Dược Vương [Bhaishajyasena],
Đại bồ tát Kim Cang Quân [Vajrasena];

Cùng với 12 ngàn thiên tử trong đó có:

Thiên tử Át-du-na [Arjuna],
Thiên tử Hiền [Bhadra],
Thiên tử Thiện hiền [Subhadra],
Thiên tử Pháp ấn [Dharmaruci],
Thiên tử Chiên đàn tạng [Chandanagarbha],
Thiên tử Hương trụ [Chandanavasin],
Thiên tử Chiên đàn hương [Chandana];

cùng với 8 ngàn thiên nữ , trong đó có :

Thiên Miệt-đàm-gi-ni [Mrdamgini],
Thiên nữ Prasadavati,
Thiên nữ Mahatmasamprayukta,
Thiên nữ Kiết tường mục [Glorious Eye],
Thiên nữ Prajapati vasini,
Thiên nữ Balini,
Thiên nữ Ðại Thế Chủ [Glorious Wealth],
Thiên nữ Subahuyukta;

cùng với 8 ngàn long vương, trong đó có:

Long vương A-pa-la-la [Apalala],
Long vương Ưu bát la [Elapatra],
Long vương Timingila,
Long vương Kumbhasara,
Long vương Kumbhashirsha,
Long vương Dũng đức [Causing Virtue]
Long vương Diệu Hỷ [Sunanda],
Long vương Sushakha,
Long vương Gavashirsha.

Tất cả đều đến đỉnh Linh Thứu, thành Vương Xá, hội tụ quanh đức Thế Tôn.

Đến nơi, họ đem đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế Tôn, đi quanh theo phía bên phải của đức Thế Tôn 3 vòng, rồi lui về chỗ ngồi.

Đức thế Tôn bấy giờ vẫn im lặng.

Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt 1 vạt áo lên vai gối bên phải quỳ xuống chấm đất, 2 tay chắp lại, hướng về đức Phật cung kính thưa:

” Thưa Thế Tôn, vô số chư Thiên, thiên tử và thiên nữ, vô số bồ tát, thanh văn cùng các long vương đều đã về hội tụ, mong được nghe pháp.

Vậy kính xin Như lai ứng cúng, chánh biến tri hãy thuyết pháp cho chúng con nghe, để lời giảng thoáng qua tai, chúng sinh nhiều tuổi liền thoát nghiệp chướng, chúng sinh ít tuổi liền tinh tấn tu thiện pháp, phát tâm vô thượng, thiện nghiệp không thoái chuyển và sẽ không bao giờ còn thoái chuyển.”

Lúc bấy giờ Như Lai phát nguyện như sau:” Nguyện mọi thú hoang đang bị dày vò, khổ não được siêu thoát về cõi Phật, nguyện tôi sẽ là người dẫn dắt họ đến với trí Phật”. 
Những con thú hoang kia nghe xong, nảy một niệm hoan hỷ, mong mình được như vậy.
“Phổ Dũng, nhờ gốc rễ điều lành ấy mà ngày nay chúng sinh tụ họp ở đây rồi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề”.
Nghe đức Thế tôn nói về điều lành ấy xong, đại Bồ tát Phổ Dũng cung kính hỏi:” Thưa Thế Tôn, chúng sinh ấy thọ được bao lâu?”
Đức Phật dạy :” Chúng sinh ấy có thể thọ đến 80 ngàn kiếp”.
Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi:” Thưa Đức Thế Tôn, 1 kiếp dài bao lâu?”
Đức Phật dạy :” Thiện nam tử, ông hãy nghe Như Lai nói đây. Ví dụ có người xây 1 thành lớn, bề rộng 12 do tuần, cao 3 do tuần, bên trong chứa toàn hạt mè.
Cứ mỗi 1 trăm năm lấy 1 hạt mè vất đi. Cứ như vậy, đến khi nào hạt mè cạn hết, nền móng trong thành cũng hư hoại cả, bấy giờ vẫn chưa xong 1 kiếp.
Lại nữa, Phổ Dũng, ví dụ có 1 ngọn núi sâu 50 do tuần và cao 12 do tuần. Có người cầm vải lụa, cứ 1 trăm năm đưa tay lau núi đá 1 lần, đến khi núi đá mòn hết, 1 kiếp vẫn chưa xong.
“ Phổ Dũng, 1 kiếp dài đến như vậy đó”.
Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng đứng lên nói:” Thưa Thế Tôn, chỉ 1 niệm hồi hướng bồ đề mà thọ đến 80 kiếp an vui, huống chi hết lòng tin tưởng thọ trì diệu pháp của Như Lai”.
Đức Phật dạy:” Thiện nam tử, ông hãy nghe cho rõ, chỉ thoáng nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội, có thể thọ 84 ngàn kiếp. Huống chi nghe rồi ghi chép, đọc tụng [ cho hết thảy tất cả chúng sinh cùng được nghe ].
Phổ Dũng, làm được như vậy, công đức gặt hái đồ sộ vô cùng.
“ Phổ Dũng, nếu có ai đối với Chánh Pháp này, lấy tâm tin tưởng trong sáng mà hết lòng đảnh lễ, sẽ nhớ được 99 kiếp về trước của mình. Người ấy làm vua Chuyển pháp luân trong 60 kiếp. Ngay trong đời sống hiện tại được mọi người thương mến kính trọng.
Phổ Dũng, người ấy sẽ không bị hại vì đao gươm, thuốc độc hay tà phép. Đến lúc mạng chung sẽ được 99 triệu Phật đà đích thân tiếp dẫn và Phổ Dũng, các đấng Phật Thế Tôn sẽ nói với người ấy rằng:” Nhờ ông nghe được Chánh Pháp Đại Tập Hội mà có được công đức này”. 
Và 99 triệu đức Phật Thế Tôn sẽ thọ ký nơi chốn người ấy thành Phật.
Phổ Dũng, huống chi là nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội từ đầu chí cuối, kỹ lưỡng trọn vẹn. Chư Phật sẽ an ủi cho người ấy không còn sự sợ hãi”.
Bấy giờ, bồ tát Phổ Dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, con cũng sẽ nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội. Vậy sẽ thành bao nhiêu công đức?”
Đức Phật trả lời:” Bằng công đức của số lượng Phật đã nhiều như số cát sông Hằng”.
Bồ tát Phổ Dũng thưa :” Thưa Thế tôn, con thích thú nghe Chánh pháp này, tâm không thấy đủ.”
Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, tốt lắm, đối với Chánh Pháp, tâm không thấy đủ là rất tốt.
Chính Như Lai đây đối với Chánh Pháp cũng không thấy đủ, huống chi người thường. 
Phổ Dũng, thiện nam thiện nữ nào đối với pháp Đại thừa mà có lòng tin tưởng trong sáng,
1 ngàn kiếp sẽ không lầm đường, 5 ngàn kiếp không sinh về cõi súc sinh, 12 ngàn kiếp không nảy niệm ác, 18 ngàn kiếp không sinh về miền biên giã, 20 ngàn kiếp làm vị đại thí chủ,
25 ngàn kiếp sinh về cõi trời, 35 ngàn kiếp siêng tu phạm hạnh, giữ giới nghiêm trang, 40 ngàn kiếp thoát ly ràng buộc thế gian, 50 ngàn kiếp thọ trì chánh pháp, 65 ngàn kiếp an trụ chánh định.
Phổ Dũng, những người như vậy ác nghiệp nhỏ không dấy lên, ma chướng không còn cơ hội tác hại, sẽ không từ thai sinh ra.
Phổ Dũng, nếu có người nào nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội này, bất kể là sinh ra ở đâu, trong 95 vô số kiếp không sinh vào ác đạo, 80 ngàn kiếp tu hành đầy đủ những gì đã nghe,
1 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp sát, 99 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp nói lời không thật, 13 ngàn kiếp từ bỏ nghiệp nói lời thô ác.
“Phổ Dũng, chúng sinh nghe được Chánh Pháp này, thật khó mà gặp được”
Lúc ấy, Bồ tát Phổ Dũng đứng dậy, vắt vạt áo lên vai, gối bên phải quỳ xuống sát đất, chắp tay hướng về đức Phật cung kính hỏi:” Kinh đức Thế Tôn, nếu có ai khinh rẻ, từ bỏ Chánh pháp này, sẽ tạo bao nhiêu nghiệp dữ?”
Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, rất nhiều”.
Bồ tát Phổ Dũng lại hỏi:” Thưa đức Thế Tôn, rất nhiều, là bao nhiêu?”
Đức Phật dạy: ” Phổ Dũng, thôi ông đừng hỏi. Đừng hỏi Như Lai người khinh rẻ, từ bỏ Chánh Pháp này tạo bao nhiêu nghiệp dữ. 
Phổ Dũng, so với nghiệp dữ tạo ra bởi hành động phỉ báng các bậc Như Lai, ứng cúng, Chánh Biến Tri nhiều như số cát của 12 sông Hằng, phỉ báng Chánh pháp Đại Tập Hội này nghiệp chướng sâu nặng hơn rất nhiều. 
Phổ Dũng, nếu có ai đối với Chánh Pháp này mà sanh tâm phỉ báng. Đó chính là phỉ báng Đại thừa, nên tội chướng nhiều hơn gấp bội. 
Phổ Dũng, những người như vậy tự tay thiêu cháy chính mình. Họ tự mình thiêu cháy chính mình”.
Bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế Tôn, có phải họ bị nghiệp ràng buộc, không thể giải thoát?
Đức Thế Tôn đáp:” Phổ Dũng, đúng như ông nói. Họ không thể giải thoát.
Ví dụ có người đầu bị chặt đứt, nếu lấy các loại mật, đường, bơ, mạch nha hay dược phẩm làm thuốc xoa dán, thì ông nghĩ thế nào? Người ấy có khả năng đứng dậy được nữa hay không ?”
Bồ tát Phổ Dũng thưa :” Không, thưa Thế Tôn, không thể nào đứng dậy được nữa”.
Đức Phật dạy :” Phổ Dũng, lại ví có người cầm vũ khí cố sức chém giết người khác.Tuy không giết được nhau nhưng thương tích đầy mình.
Lúc ấy nếu được thuốc chữa, vết thương còn có thể lành. Chừng đó nhớ lại nỗi đau đớn của vết thương lúc trước có thể nghĩ rằng :” Nay tôi đã hiểu, tôi sẽ không bao giờ còn tạo ác nghiệp”.
Nhờ suy nghĩ như vậy, Phổ Dũng, người ấy có thể vì nhớ khổ đau mà từ bỏ nghiệp chướng. Bấy giờ có thể thấy Chánh Pháp.
Rồi nhờ thấy Chánh Pháp mà thành tựu được tất cả thiện pháp.
“Phổ Dũng, sự thể là như vậy. Ví như bậc cha mẹ thấy con mình chết trong đớn đau khổ não, vẫn không cách gì cứu được.
Phổ Dũng, người phàm phu không có khả năng cứu mình, cứu người. Đến khi chết, chẳng còn nơi nương tựa.
“ Phổ Dũng, có 2 loại người đến khi chết không còn nơi nương tựa. Đó là người tự mình làm việc ác hay khiến người khác làm, hoặc là người từ bỏ, khinh rẻ Chánh Pháp. 
2 loại người này đến lúc mạng chung, không có nơi nương tựa”.
Đại bồ tát Phổ Dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, nếu từ bỏ, khinh rẻ Chánh pháp thì phải đọa cõi nào? Phải sinh về đâu?”
Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, từ bỏ, khinh rẻ Chánh pháp, thì phải tái sinh triền miên giới hạn, vô lượng kiếp về sau trầm luân trong luân hồi. 
Phổ Dũng, từ bỏ, khinh rẻ Chánh Pháp thì chịu đớn đau 1 kiếp trong địa ngục Hào Khiếu, 1 kiếp trong địa ngục Đại Hào Khiếu, 1 kiếp trong địa ngục Chúng hợp, 1 kiếp trong địa ngục Viêm Nhiệt, 1 kiếp trong địa ngục Đại Nhiệt, 1 kiếp trong địa ngục Hắc Thằng, 1 kiếp trong địa ngục A tỳ, 1 kiếp trong địa ngục Đẳng hoạt.
Và Phổ Dũng, họ phải chịu khổ đau trong 8 đại địa ngục như vậy cho đến 8 kiếp”.
Lúc ấy, đại bồ tát Phổ Dũng nói rằng :” Thưa Thế Tôn, thật quá đau khổ. Thưa Như Lai, thật quá đau khổ. Con không đành lòng nghe”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ :
“ Như Lai kể cảnh tượng
Chúng sinh trong địa ngục
Khổ đau như thế nào
Ông không đành lòng nghe
“Nếu làm những điều lành
Sẽ được quả an lạc
Còn làm những điều dữ
Sẽ gặp quả khổ đau
“ Không biết tạo nhân vui
Thì sinh trong cõi đời
Bị khổ đau ràng buộc
Lúc chết càng chơi vơi
“ Ai nhớ Phật tối thắng
Cấy trồng được nhân vui
Thì sinh trong cõi đời
Bị khổ đau ràng buộc
Lúc chết càng chơi vơi
“ Ai nhớ Phật tối thắng
Cấy trồng được nhân vui
Tin tưởng nơi đại thừa
Sẽ không sa ác đạo.
“Phổ Dũng, ông nên biết
Nghiệp cũ không mất đi
Việc lành dù bé nhỏ
Kết quả vẫn vô lường
“ Nơi cõi Phật thanh tịnh
Dù chỉ gieo 1 hạt
Thu hoạch cũng lớn lao
Nếu gieo trồng vài hạt
Kết quả thật không cùng
“Ai hoan hỷ chánh pháp
Sẽ luôn được yên vui
Sẽ lìa mọi việc ác
Làm hết những điều lành
Dù chỉ 1 mảy lông
Mang cúng dường Phật pháp
Đến 80 ngàn kiếp.
Tài sản luôn dồi dào
Dù sinh ra ở đâu
Cũng siêng năng bố thí
Do cúng dường tam bảo
Thiện nghiệp nhiều vô tận”

Đại bồ tát Phổ Dũng nghe xong bài kệ, cung kính hỏi đức Phật Thế Tôn:”
Thưa Thế Tôn, làm sao để nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội này?
Đâu là gốc rễ điều lành cần phải nắm giữ?”
Đức Phật bảo:” Phổ Dũng, công đức của người nghe được Chánh Pháp Đại Tập Hội này phải biết là nhiều bằng công đức của người đã cúng dường, chu toàn đầy đủ cho các bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát của 12 sông Hằng.”
Bồ tát Phổ Dũng thưa :” Thưa Thế tôn, làm cách nào đề tích lũy đầy đủ thiện căn ?”.
Đức Phật dạy:” Phổ Dũng, ông nên biết thiện căn vốn bình đẳng với Như Lai”.
Bồ tát Phổ Dũng hỏi :” Thưa Thế Tôn, thế nào là thiện căn vốn bình đẳng với Như Lai”.
Đức Phật dạy:” Đạo sư nói Chánh Pháp, bình đẳng với Như Lai”.
Bồ tát Phổ Dũng lại thưa :” Thưa đức Thế Tôn, như thế nào là Đạo sư nói Chánh Pháp ?”.
Đức Phật dạy:” Bất cứ 1 ai đọc, tụng Chánh Pháp Đại Tập Hội này, gọi là đạo sư nói Chánh Pháp”.
Bồ tát Phổ Dũng nói: ” Chỉ nghe Chánh Pháp Đại Tập Hội đã được công đức nhiều vô kể, huống chi ghi chép, đọc tụng [ cho mọi người cùng nghe]. Công đức như vậy, nhiều bao nhiêu?”
Đức Thế tôn nói:” Phổ Dũng, ví như mỗi phương đều có các bậc Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát có trong 12 sông Hằng, ở lại đến 12 kiếp, không ngừng nói về công đức của người ghi chép kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội này, cũng vẫn không thể nói cho cùng tận.
Dù có các bậc Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri nhiều bằng số cát có trong 48 sông Hằng, cũng không thể diễn tả hết được công đức của người ghi chép Chánh Pháp này. Huống chi là công đức của người ghi chép, rồi suy nghĩ nghĩa lý, đọc, tụng thuộc lòng.
Người ấy sẽ là kho tàng Chánh Pháp”.
Đại Bồ tát Phổ Dũng hỏi:” Thưa Thế Tôn, vậy số lượng công đức của người đọc, tụng, thuộc lòng kinh này ra sao?”
Bấy giờ Thế tôn nói bài kệ :
“Nếu có người đọc, tụng
Chánh Pháp Đại Tập Hội
Dù chỉ được 4 câu
Thì dù Chư Như Lai
Nhiều như số cát của
84 ngàn sông Hằng
Diễn tả không ngừng nghỉ
Cũng không thể nói hết
Công đức của người ấy
Chánh Pháp do Phật dạy
Rộng vô lượng vô biên
Thật khó mà gặp được”
Bấy giờ có 84 ngàn chục tỷ triệu loài trời chắp tay hướng về nơi bộ kinh Chánh Pháp Đại Tập Hội đang được tuyên thuyết, đồng thanh tán dương :
“Thưa Thế tôn, cho dù vì lý do gì, đức Thế tôn truyền cho cõi thế gian này kho tàng chánh Pháp siêu việt như vậy thật là 1 điều lành”.
Khi ấy có 18 ngàn chục tỷ triệu người tu theo đạo lõa thể [ jain ] kéo đến chỗ đức Thế Tôn đang đứng, nói rằng :
“ Này Cù Đàm khổ hạnh, chúng tôi hơn ông !”.
Đức Thế Tôn đáp:
” Như Lai mới là bậc chiến thắng chân thật. Các người cực đoan lõa thể, làm sao có thể hơn ai ?”
Họ đều nói : ”Chúng tôi hơn ông. Cù Đàm khổ hạnh, chúng tôi hơn ông”.
Đức Thế Tôn đáp: ” Như Lai không thấy trong số các người có ai là kẻ chiến thắng chân thật
Với cái thấy điên đảo
Lấy gì mà chiến thắng ?
Này những người lỏa thể
Hãy lắng nghe cho kĩ
Như Lai sẽ nói lời
Lợi ích cho các ông
Trí của 1 đứa trẻ
Không có gì an lạc
Lấy gì mà chiến thắng?
Phải biết rằng Như Lai
Bình đẳng với tất cả
Ai cần được nghe pháp
Như Lai sẽ nói cho
Ðoàn người tu đạo lõa thể nổi giận, sinh lòng bất tín.
Vừa lúc ấy Thiên Vương Ðế thích [Indra] giáng sấm sét xuống.
18 ngàn triệu người tu đạo lõa thể đồng loạt kinh hãi, đớn đau tuyệt vọng, lời than tiếng khóc nổi lên.
Ðức Thế Tôn tàng ẩn thân hình.
Ðoàn người tu đạo lõa thể nước mắt đầm đìa, tìm quanh không thấy đức Thế Tôn, thốt lên lời kệ:
“Bây giờ không còn ai
Che chở cho chúng con
Không còn cha, còn mẹ
Như một cánh đồng hoang
Không cả căn nhà trống
Biết về đâu trú thân
Dòng nước nay đã cạn
Cá biết lội nơi đâu
Cây xanh giờ không có
Chim biết đậu chốn nào.
Không còn nơi nương dựa
Ðau khổ thật vô biên
Không còn thấy Như lai
Khổ đau dài vô tận.”
Lúc ấy, đoàn người tu đạo lõa thể đứng lên, cả hai chân quì chấm mặt đất, nói rằng:
“Như Lai, bậc từ bi
Là đấng cao quí nhất
Trong toàn cõi con người
Xin Như lai độ giúp
Làm nơi chốn chở che
Cho chúng con nương dựa”
Khi ấy đức Thế Tôn hiện thân chỗ cũ, mỉm cười nói với đại bồ tát Phổ Dũng: “Phổ Dũng, ông hãy thay Như Lai mà nói chánh pháp cho các vị tu đạo lõa thể này.”
Bồ tát Phổ Dũng đáp : “Thưa Thế Tôn, như ngọn núi Ðen nghiền đá của mình để xoay đỉnh về đảnh lễ núi Tu Di, vua của các núi.
Con cũng vậy thôi. Làm sao có thể nói pháp khi Như lai đang đứng ở đây, ngay trong Pháp hội này?”
Ðức Thế tôn dạy: “Thôi, ông đừng nói. Thiện nam tử, ông hãy dùng phương tiện thiện xảo của chư Phật để du hành mười phương thế giới, thử tìm xem nơi nào đang có các đấng Như lai, nơi nào đang dựng Pháp Ðàn.
Còn Như lai ở đây nói chánh pháp cho các vị tu đạo loã thể này.”
Bồ tát Phổ Dũng hỏi: “Thưa Thế tôn, con phải dùng thần thông của mình hay của Như Lai? Con nên du hành thế giới bằng thần lực nào?”
Ðức Phật bảo :”Khi đi, ông hãy dùng thần lực của chính mình.
Khi về, hãy nương nhờ thần lực của Như Lai.”
Bồ tát Phổ Dũng nghe xong đứng dậy, theo chiều bên phải của đức Thế Tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình biến mất ngay nơi ấy.
Ðức Thế Tôn lúc bấy giờ nói với đoàn người tu đạo lõa thể như sau:
“Các ông nên biết chính sự sinh ra là khổ não. Vì có sinh nên có sợ. Vì sinh mà sợ bệnh. Vì bệnh mà sợ già. Vì già mà sợ chết.”
“Thưa Thế tôn, Thế tôn nói: ‘vì sinh mà phát sinh lòng sợ sinh, là nghĩa gì?”
“Vì sinh làm người nên có lắm nỗi sợ. Vua sợ nỗi vua. Cướp lo nỗi cướp. Sợ lửa, sợ thuốc độc, sợ nước, sợ gió, sợ lốc xoáy, sợ nghiệp đã làm. [Những lo sợ như vậy do sinh mà có]”
Ðức Thế Tôn cứ như vậy giảng pháp phong phú, nói về sự sinh ra.
Ðoàn người tu đạo lõa thể kia trong tâm cực kỳ xao xuyến, nói rằng: “Từ nay về sau, chúng con sẽ thôi không khao khát được sinh ra nữa.”
Khi đức Thế tôn giải thích về Chánh Pháp Ðại Tập Hội, cả đoàn 18 triệu người cực đoan lõa thể đều phát tâm vô thượng bồ đề.
Trong thành phần Tăng chúng của Phật, có 18 ngàn bồ tát thập địa dùng thần thông hóa hiện thân ngựa, voi, báo, ưng, núi Tu Di, chữ vạn, cũng có vị hóa hiện thân cây.
Các vị cũng hóa hiện tòa sen, tự mình ngồi kiết già nơi ấy.
9 ngàn triệu bồ tát ngồi lại phía bên phải của đức Thế Tôn, 9 ngàn triệu vị ngồi lại phía bên trái.
Trong suốt khoảng thời gian đó, Phật nhập chánh định, thuyết pháp bằng phương tiện thiện xảo.
Ðến ngày thứ bảy, đức Thế tôn duỗi cánh tay, biết đại bồ tát Phổ Dũng đang trở về từ cõi Phật Liên Hoa Thượng.
Khi đi, đại bồ tát Phổ Dũng dùng thần lực của chính mình, hết bảy ngày mới đến được cõi Phật Liên Hoa Thượng.
Khi đức Thế Tôn duỗi cánh tay, Bồ tát Phổ Dũng đã về bên cạnh đức Thế Tôn.

Sau khi đi quanh ba vòng theo chiều bên phải của đức Thế Tôn, Bồ tát Phổ Dũng nghe tâm tràn đầy tin tưởng, chắp tay hướng về đức Thế Tôn mà thưa:
“Thưa Thế Tôn, con đã viếng tất cả thế giới hệ của mười phương.
Bằng một trong những thần lực của mình, con đã gặp 99 ngàn triệu cõi Phật.
Bằng hai trong những thần lực của mình, con đã thấy được một ngàn triệu đấng Thế Tôn.
Cứ như vậy cho đến ngày thứ bảy, tới được cõi Phật Liên Hoa Thượng, trên đường đi con cũng thấy hàng trăm ngàn triệu cõi Như Lai bất động.
“Thưa Thế Tôn, vào lúc ấy chư Phật Thế Tôn dùng thần lực hoá hiện, vì chúng sinh mà nói chánh pháp trong 92 ngàn triệu cõi Phật.
Con thấy được 80 ngàn triệu cõi Phật, 80 ngàn triệu Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri xuất hiện trong cõi thế. Sau khi đảnh lễ từng vị xong, con lại đi tiếp.
“Thưa Thế Tôn, ngay ngày hôm ấy, con đi qua 39 ngàn triệu cõi Phật, và trong 39 ngàn triệu cõi Phật này, có 39 ngàn triệu bồ tát sinh ra, và trong cùng một ngày, thành tựu vô thượng bồ đề.
Con đi nhiễu ba vòng quanh các đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri ấy, rồi dùng thần thông làm thân mình biến mất.
“Thưa Thế Tôn, con cũng thấy chư Phật Thế tôn, trong 60 triệu cõi Phật. Con quì đảnh lễ từng cõi Phật, từng vị Phật Thế tôn, rồi đi tiếp.
“Thưa Thế tôn, con lại thấy 8 triệu cõi Phật, Như Lai tận diệt để giáo hóa chúng sinh. Con đảnh lễ từng vị rồi đi tiếp.
“Lại nữa, thưa Thế tôn, có 95 triệu cõi Phật, chánh pháp đều mất cả.
Con cực kỳ xao xuyến, chảy nước mắt xót thương.
Ở đó, con lại thấy các Loài Trời, Rồng [Nagas], Dạ Xoa [Yakshas], la sát [rakshasas], cùng nhiều loại chúng sinh khác trong cõi Dục giới khóc than khắc khoải.
Thưa Thế Tôn, con lại thấy trong các cõi Phật ấy, sông ngòi đại dương, núi Tu Di cùng cỏ cây , đất đai đều cháy rụi không sót lại chút gì. Con quì đảnh lễ, nghe lòng tuyệt vọng, rồi đi tiếp.
“Thưa Thế tôn, con lên đến tận cõi Phật Liên Hoa Tôn [Padmottara], thấy có 500 ngàn triệu tòa sen.
Ở phía Nam, có 100 ngàn triệu tòa sen.
Ở phía Bắc, có 100 ngàn triệu tòa sen.
Ở phía Ðông có 100 ngàn triệu tòa sen.
Ở phía Tây có 100 ngàn triệu tòa sen.
Ở không gian phía trên có 100 ngàn triệu tòa sen.
Thưa Thế tôn, tất cả toà sen được dựng bằng bảy loại châu báu.
Và trên mỗi toà sen là một vị Như lai đang thuyết pháp.
Con kinh ngạc, hướng về tất cả các đấng Như lai ấy, hỏi: ‘Không biết đây là cõi Phật nào?’
“Các đấng Như lai dạy rằng : ‘Thiện nam tử, đây là cõi Phật Liên Hoa Tôn.’
“Thưa Thế tôn, con lúc ấy đảnh lễ tất cả các vị Như lai ấy và hỏi tên của đấng Như lai giáo chủ cõi Phật này.
“Chư Như lai đáp: ‘Giáo chủ cõi Phật này là Liên Hoa Tạng [Padmagarbha] Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri.”
“Lúc ấy, con lại hỏi: ‘Con thấy có hàng trăm ngàn triệu bậc Như lai, nhưng lại không gặp đấng giáo chủ Liên Hoa Tạng Như lai Ứng cúng Chánh biến tri. Xin chỉ giúp cho con, đấng giáo chủ nơi đây là vị nào?’
“Chư Như lai đáp: ‘Thiện nam tử, Như lai sẽ chỉ cho ông thấy đâu là Liên Hoa Tạng Như lai Ứng cúng Chánh biến tri.’
“Nói vừa xong, tất cả Như lai đều biến mất, hiện tướng bồ tát, chỉ còn lại một vị.
Con đến đảnh lễ, đặt đỉnh đầu ngang chân Như lai.
Khi con đến, một tòa sen hiện lên, con bước lên toà sen ấy.
Thưa Thế Tôn, lúc ấy bỗng dưng có rất nhiều tòa sen hiện lên, nhưng không ai ngồi trên đó cả.
Con mới hỏi Liên Hoa Tạng Như lai: ‘Kính thưa Như lai, vì sao tòa sen này lại trống không, không ai ngồi?’
“Liên Hoa Tạng Như lai đáp: ‘Chưa đủ gốc rễ điều lành, không thể lên ngồi toà sen ấy.’
“Con lại hỏi: ‘Kính thưa Thế tôn, muốn ngồi tòa sen ấy phải trồng những gốc rễ điều lành nào?’
“Liên Hoa Tạng Như lai đáp: ‘Ông hãy nghe đây, Thiện nam tử.
Chúng sinh nào thoáng nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội sẽ nhờ gốc rễ điều lành này mà ngồi được tòa sen kia, huống chi người ghi chép, đọc, tụng.
Phổ Dũng, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp Ðại Tập Hội nên bây giờ có thể lên ngồi tòa sen ấy. Bằng không, chẳng làm sao đến được cõi Phật này.’
“Ðức Thế tôn nói xong, con lại hỏi: ‘Thưa Thế tôn, công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội này được bao nhiêu?’
“Liên Hoa Tạng Như lai mỉm cười. Con lại hỏi: ‘Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì, vì mục đích gì mà Như lai mỉm cười?’
“Ðức Thế tôn nói: ‘Này Thiện nam tử, này đại bồ tát Phổ Dũng, thần thông trí tuệ vượt bực, ông hãy nghe cho kỹ.
Ví dụ có người là vua Chuyển pháp luân, thống lãnh bốn lục địa.
Phổ Dũng, nếu vua Chuyển pháp luân ấy lấy hạt mè trồng đầy bốn lục địa, ông nghĩ thế nào, sẽ thu hoạch được bao nhiêu?’
“Con thưa rằng :’Nhiều, nhiều lắm, thưa Thế tôn.’
“Ðức Thế tôn bảo: ‘Phổ Dũng, ví dụ được bao nhiêu hạt mè, gom hết lại một chỗ, lại có người ngồi lượm từng hạt mà đếm.
Ông nghĩ thế nào, có đếm hết được không?’
“Con thưa, ‘Thưa Thế tôn, không thể được. Không cách gì có thể đếm hết được.’
‘Phổ Dũng, trừ phi là Như lai, không ai có thể đếm biết công đức của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này.
‘Phổ Dũng, cho dù các bậc Như lai nhiều bằng số lượng mè thu hoạch được, tất cả cùng nói về công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
Công đức ấy vẫn không thể nói cùng, huống chi là công đức của người biên chép, đọc tụng.’
“Con lại hỏi, ‘biên chép Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, được phước gì?’
“Ðức Thế tôn nói: ‘Thiện nam tử, nếu có ai mang hết cây cỏ có trong một triệu thế giới, cắt thành từng khúc dài bằng ngón tay.
và, Phổ Dũng, hãy nghe thêm hai ví dụ này.
Nếu có ai mang đất đá có trong một triệu thế giới hệ, nghiền nát thành bụi mỏng, rồi cứ mỗi hạt bụi biến thành một vị vua Chuyển pháp luân, thu nắm bốn lục địa.
Công đức của ngần ấy vua Chuyển pháp luân, có thể dùng toán số đếm biết được không?’
“Con thưa: ‘Ngoài Như lai, không ai có thể đếm biết được.’
‘Phổ Dũng, công đức của người ghi chép Kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy.
Ngần ấy vua Chuyển pháp luân được bao nhiêu công đức, vẫn không thể sánh nổi với công đức của người ghi chép Chánh Pháp này, dù chỉ một chữ.
Tuy công đức của vua Chuyển pháp luân rất đồ sộ, vẫn không thể sánh bằng.
Phổ Dũng, bậc đại bồ tát cũng vậy, nắm giữ và hành trì chánh pháp Ðại Thừa không ngưng nghỉ. Công đức không thể nghĩ bàn, dù là vua Chuyển pháp luân cũng không thể sánh bằng.
Tương tự như vậy, không gì có thể ví bằng công đức của người ghi chép kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
Phổ Dũng, kinh Ðại Tập Hội này vén mở cả kho tàng công đức, tiêu diệt phiền não, tỏa rạng ngọn đèn chánh pháp, chiến thắng tà ma, sáng ngời cõi thanh tịnh bồ tát, mang lại thành tựu viên mãn.’
“Nghe xong, con hỏi: ‘Thưa Thế tôn, ở cõi thế gian này, phạm hạnh là điều khó giữ.
Nếu có ai tự hỏi vì sao lại như vậy, thưa Thế tôn, là vì đường tu của Như lai khó gặp, nên phạm hạnh cũng khó gặp.
Siêng tu phạm hạnh, thì thấy Như lai. Ngày cũng như đêm, Như lai luôn ở trước mặt.
Ngày đêm thường thấy Như lai là thấy cõi Phật. Thấy cõi Phật thì nắm được kho tàng chánh pháp.
Ðến lúc chết, sợ hãi cũng không sinh.
Vì vậy không lo, không buồn, không bị tham dục ràng buộc.’
“Con nói xong, đức Thế tôn dạy con rằng: ‘Phổ Dũng, thật khó mà gặp được Như lai.’
“Con nói: ‘Thưa Thế tôn, rất khó. Thưa Như lai, rất khó.’
“Ðức Phật Liên Hoa Tạng nói: ‘Phổ Dũng, Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy, cũng rất khó gặp.
Bất cứ một ai nghe được Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, sẽ biết chuyện 80 kiếp về trước.
60 ngàn kiếp làm vua Chuyển pháp luân, 8 ngàn kiếp thành bậc Ðế thích, 20 ngàn kiếp sinh vào cõi trời, 38 ngàn kiếp sinh vào đại giai cấp bà la môn,
99 ngàn kiếp không tái sinh cõi dữ, 100 kiếp không vào cõi quỉ đói, 28 ngàn kiếp không vào cõi súc sinh, 13 ngàn kiếp không vào cõi a tu la, không chết vì vũ khí, 25 ngàn kiếp trí tuệ không bị khuất lấp,
7 ngàn kiếp sáng dạ thông minh, 9 ngàn kiếp dung mạo uy nghi, đủ mọi tướng tốt của sắc thân Như lai,
25 ngàn kiếp không làm phụ nữ, 16 ngàn kiếp không bệnh, 35 ngàn kiếp được nhãn thông,
19 ngàn kiếp không sinh vào loài rồng, 60 ngàn kiếp không nổi cơn giận dữ, 7 ngàn kiếp không nghèo khó, 80 ngàn kiếp sinh trên hai lục địa.
Dù kém sung túc đi nữa, cũng được những điều sau đây:
12 ngàn kiếp không sinh làm người mù, 13 ngàn kiếp không sinh vào ba ác đạo, 11 ngàn kiếp làm vị thầy dẫn đạo kiên nhẫn từ hòa.
‘Ðến lúc lâm chung, tâm thần không tán loạn, không điên đảo.
Phương Ðông sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 12 sông Hằng;
Phương Nam sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 20 triệu sông Hằng;
Phương Tây sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 25 sông Hằng;
Phương Bắc sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 80 sông Hằng;
Không gian phía trên sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 90 triệu sông Hằng;
Không gian phía dưới sẽ thấy chư Phật Thế tôn nhiều như số cát của 8 triệu sông Hằng.
Tất cả đều trực tiếp hiện ra trước mắt người ấy, an ủi như sau:
‘Thiện nam tử, vì ông đã từng nghe qua Chánh Pháp Ðại Tập Hội, nên đời sau được lợi lạc hạnh phúc, không cần sợ hãi.
Thiện nam tử, ông có thấy các bậc Như lai nhiều như cát của hàng trăm tỷ triệu con sông Hằng không?’
‘Người ấy đáp: ‘Thưa Thế tôn con có thấy. Thưa Như lai, con có thấy.’
‘Như lai nói: ‘Thiện nam tử, các bậc Như lai này đến để gặp ông.’
‘Người ấy nói: ‘Con nhờ công đức gì mà được Như lai đến gặp?’
‘Như lai đáp: ‘Thiện nam tử, ông hãy nghe đây. Nhờ ông có được thân người, lại tình cờ tai nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội. Vì vậy cấy trồng được công đức lớn.’
‘Người ấy nói: ‘Thưa Thế tôn, chỉ thoáng nghe qua mà được công đức nhiều như vậy, nói gì người nghe hết được từ đầu chí cuối.’
‘Như lai nói: ‘Ông đừng nói, ông đừng nói. Thiện nam tử, Như lai sẽ nói cho ông nghe về công đức của một bài kệ bốn câu.
Thiện nam tử, so với công đức của các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều như số cát của 13 sông Hằng, công đức của một bài kệ bốn câu nhiều hơn rất nhiều.
So với công đức của người cúng dường các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri nhiều bằng số cát có trong 13 sông Hằng, thì công đức của người nghe chỉ một bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, nhiều hơn rất nhiều, huống chi là nghe được trọn vẹn từ đầu chí cuối.
Thiện nam tử, ông hãy nghe về công đức của người nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội từ đầu chí cuối.

‘Lúc bấy giờ vị thánh nhân cất lời trấn an:
‘Ta sẽ làm nơi nương dựa.
Ta sẽ nâng đỡ, sẽ giúp ông.
Ông chớ nên lo sợ, hãy lắng nghe cho kỹ. Phật có một chánh pháp tên gọi Ðại Tập Hội, ông đã từng nghe qua bao giờ chưa?’
‘Người ấy thưa: ‘Con chưa từng được nghe qua.’
‘Thánh nhân nói:
‘Thật là tội nghiệp. Nếu không trú ở lòng từ bi, có ai mang chánh pháp ra nói cho người bị lửa đốt bao giờ.
Thiện nam tử, ông hãy nghe câu chuyện này.
Ở một thời xa xưa, vô lượng kiếp về trước, có một vị Pháp Vương tên gọi Vô Cấu Nguyệt [Vimalacandra].
Lúc bấy giờ, vua Vô Cấu Nguyệt sinh được người con trai, liền mời các vị bà la môn rành xem tướng đến hỏi rằng: ‘Các ông xem tướng đứa bé này ra sao.’
Tất cả đều nói: ‘Thật chẳng lành. Ðứa bé mới ra đời này, thật chẳng lành.’
Vua hỏi: ‘Ðứa bé lớn lên sẽ ra sao?’
Tất cả đều nói: ‘Ðứa bé này khi bảy tuổi sẽ làm hại tánh mạng của cha mẹ mình.’
Bấy giờ vua nói: ‘Dù đứa bé có sẽ hại mạng ta, nhưng nó vẫn là con ta, ta sẽ không hại nó. Huống chi thân người là quí, nay có kẻ vừa được sinh ra làm người, ta nhất định sẽ không giết hại.’
Ðứa bé lớn thật nhanh, qua một tháng đã lớn bằng trẻ 2 tuổi.
Thấy đứa bé lớn nhanh, vua biết đều do nghiệp báo của mình, nên sớm trao ngôi báu lại cho đứa trẻ, dặn dò kỹ lưỡng:
‘Giang sơn này ta giao lại cho con. Con hãy là một vị vua tốt, hãy dùng chánh pháp mà trị dân, chuyện gì trái với chánh pháp, đừng bao giờ làm.’
Truyền ngôi xong, vua rũ bỏ mọi quyền hành của người trị nước.
‘Hàng vạn quan quân kéo về cạnh vua Vô Cấu Nguyệt, thưa rằng: ‘Ðại vương, vì lý do gì mà ngài dứt bỏ giang sơn, thôi không trị nước?’
‘Vua đáp: ‘Cho dù từ nhiều lần vô lượng kiếp ta luôn được làm vua với đầy đủ giang sơn, tài sản, quyền hành, nhưng vẫn không thấy mãn nguyện.’
‘Chẳng bao lâu sau, đứa con trai ra tay giết hại cha mẹ, vướng nghiệp ngũ nghịch.
‘Ông có biết, ta còn nhớ khi vị vua trẻ giết cha mẹ mình rồi, cũng cảm thấy hối hận, cũng khóc than vật vã.
Ta thấy vậy không đành lòng, đến nói Phật Pháp cho người ấy nghe.
Người ấy nghe xong, nghiệp ngũ nghịch tiêu diệt nhanh chóng, không còn dấu vết.
‘Vị thánh nhân nói tiếp: ‘Chánh Pháp Ðại Tập Hội là chúa tể của mọi kinh, ai nghe sẽ nắm được cội nguồn chánh pháp vô thượng, xóa mọi nghiệp chướng, tiêu diệt mọi phiền não thác loạn.
‘Ðường dẫn đến giải thoát
Ta sẽ nói ở đây
Ông hãy nghe cho kỹ
Một bài kệ bốn câu
Nếu được giảng liên tục
Sẽ diệt mọi nghiệp chướng
Ðạt quả Tu đà hoàn
Giải thoát mọi ác nghiệp
Khi lời này nói ra
Chúng sinh bị ràng buộc
Trong địa ngục kinh hoàng
Ðều được giải thoát cả’
Người ấy nghe xong rồi
Từ chỗ ngồi đứng dậy
Hai bàn tay chắp lại
Ðảnh lễ dưới chân thầy
‘Lành thay, ôi lành thay
Lành thay, thiện tri thức
Lành thay, đấng đạo sư
Vạch lối đi vi diệu
Chánh Pháp Ðại Tập Hội
Chiến thắng mọi nghiệp dữ
Lành thay, cho những ai
Ðược nghe Chánh Pháp này’
‘Vào lúc bấy giờ, ở khoảng không phía trên, 12 ngàn thiên tử cùng chắp tay, tiến đến trước mặt thánh nhân, quì xuống đảnh lễ, nói rằng:
‘Thượng nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?’
Ðồng thời, có bốn triệu long vương và 18 ngàn la sát vương cũng đến.
Tất cả chắp tay hướng về thánh nhân, cung kính cúi đầu đảnh lễ, nói như sau: ‘Thượng nhân, thượng nhân biết được bao nhiêu kiếp về trước?’
Vị thánh nhân đáp: ‘Hàng trăm ngàn triệu thời kỳ vô số.’
‘Tất cả cùng hỏi :’Nhờ thiện nghiệp nào mà ác nghiệp có thể tức thì tẩy sạch?’
‘Thánh nhân đáp: ‘Nhờ nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
Trong số chúng sinh đến đây ngày hôm nay, tất cả những ai có lòng tin tưởng trong sáng khi nghe Chánh Pháp này, sẽ được thọ ký vô thượng bồ đề.
Người nào vướng nghiệp ngũ nghịch, chỉ cần nghe nói đến chánh pháp tên Ðại Tập Hội, nghiệp chướng tức thì tiêu diệt.
Hàng trăm triệu thời kỳ vô số vô lượng kiếp, cửa vào ác nghiệp sẽ khép kín, 32 cánh cửa dẫn vào các tầng trời sẽ mở ra.
Gốc rễ điều lành của người chỉ nghe một bài kệ bốn câu đã đồ sộ như vậy, huống chi mang lòng tin tưởng tôn kính, cúng dường Chánh Pháp ấy bằng hoa, vòng hoa, hương đốt, hương xoa, hương bột, y phục, màn trướng, tràng phan, hay người dùng nhạc cụ tấu nhạc cúng dường, phát sinh một niệm hoan hỉ, tán dương ‘lành thay, lành thay’.'”
Ðại bồ tát Phổ Dũng kể lại với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, còn những người khi nghe tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội mà đảnh lễ bằng cách chắp tay cung kính, họ được công đức gì?”
Ðức Thế tôn đáp,:
“Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Bất cứ một ai vướng nghiệp ngũ nghịch, tự mình làm, bảo người làm, hay thấy người làm mà lòng mừng theo, khi nghe bài kệ bốn câu của Chánh Pháp Ðại Tập Hội mà biết đảnh lễ bằng cách chắp tay cung kính.
Phổ Dũng, ông nên biết tội chướng ngũ nghịch của người ấy đều tiêu diệt cả, huống gì nghe được trọn vẹn Chánh Pháp Ðại Tập Hội, công đức lại nhiều hơn gấp bội.
Thiện nam tử, Như lai sẽ giải thích ý nghĩa này cho ông.
Ví dụ cung điện long vương trong hồ Vô Nhiệt Não [Anavatapta], nơi đó mặt trời không soi sáng, lại có năm con sông lớn, nước chảy xiết vô cùng vô tận.
Có người muốn đếm từng giọt nước trong năm con sông lớn kia, Phổ Dũng, ông nghĩ thế nào, có đếm hết được không?”
Phổ Dũng thưa: “Không thể, thưa Thế tôn.”
Ðức Thế tôn nói: “Phổ Dũng, gốc rễ điều lành của Chánh Pháp Ðại Tập Hội này cũng vậy, dù có đếm hàng trăm hàng ngàn kiếp cũng không thể nào đếm hết.
Phổ Dũng, nếu ông thắc mắc vì sao lại như vậy, Như lai hỏi ông: Người tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội trong một phút giây, có nhọc công hay không?”
Phổ Dũng đáp, “Dạ có, thưa Như lai.”
Ðức Thế tôn nói, “Phổ Dũng, người nào có khả năng tuyên thuyết Chánh Pháp Ðại Tập Hội phải nhọc công còn hơn vậy nữa.
Ví như đếm nước trong năm con sông lớn chảy từ hồ Vô Nhiệt Não, không thể nào cùng.”
Bồ tát Phổ Dũng thưa: “Thưa Thế tôn, năm con sông lớn ấy tên gọi là gì?”
Ðức Thế tôn đáp, “Ðó là sông Ganges, sông Sita, sông Vakshu, sông Yamuna và sông Chandrabhaga.
Năm con sông lớn này đổ ra đại dương.
Mỗi con sông đều có năm trăm nhánh sông đổ vào.
Phổ Dũng, năm trăm nhánh sông này từ trời chảy về, mỗi nhánh sông lại có hàng ngàn nhánh sông nhỏ, nhờ vào đó mọi loài chúng sinh đều được lợi ích.”
Phổ Dũng thưa: “Hàng ngàn nhánh sông nhỏ đó là gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Sundari có hàng ngàn nhánh sông,
Shamkha có hàng ngàn nhánh sông, Vahanti có hàng ngàn nhánh sông, Chitrasena có hàng ngàn nhánh sông, Dharmavritta có hàng ngàn nhánh sông.
Những con sông lớn này đều có hàng ngàn nhánh sông, làm thành suối mưa lên cõi địa cầu.
Phổ Dũng, suối mưa rơi xuống tạo hoa màu, cây trái, vụ mùa.
Khi rớt trên cõi địa cầu thì thành nước.
Nhờ nước mà đồng ruộng vườn tược đều được thỏa thuê xanh tốt.
Phổ Dũng, ví như toàn thể thế giới có một vị luân vương nắm giữ thiên hạ, làm cho ai cũng được hạnh phúc.
Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy, được tuyên thuyết trong thế giới hệ này là để chúng sinh cùng được lợi ích hạnh phúc.
Chư thiên cõi trời thứ 33 sống rất thọ, nhưng loài người thì không được như vậy.
Nếu ông hỏi cõi trời thứ 33 là cõi trời nào, ông phải biết đó là cõi của thiên vương Ðế Thích [Indra].
Phổ Dũng, ở đó toàn kẻ khẩu nghiệp thanh tịnh, công đức nhiều không thể ví dụ được.
Còn kẻ nào khẩu nghiệp nặng nề, thì sinh vào địa ngục và súc sinh.
Chúng sinh đau khổ trong ba cõi địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh không có nơi nương dựa, hy vọng đứt đoạn. Ấy là vì ảnh hưởng của thầy bạn không tốt.
Còn kẻ khẩu nghiệp thanh tịnh, công đức không thể ví dụ, ấy là nhờ ảnh hưởng của thầy bạn tốt.
Thầy -bạn tốt là thiện tri thức, gặp thiện tri thức là gặp Như lai. Gặp Như lai thì ác nghiệp tiêu diệt cả.
Vua mà làm lợi ích cho chúng sinh, chúng sinh mừng vui không thể ví dụ.
“Phổ Dũng, Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng vậy, mang đầy đủ chức năng của đấng Như lai trong thế giới này.
Ai không được nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội thì không thể thành tựu vô thượng bồ đề, không thể chuyển pháp luân, không thể đánh trống đại pháp, không thể ngồi tòa Sư tử chánh pháp, không thể nhập cõi Niết Bàn, không thể phóng vô lượng ánh sáng.
Phổ Dũng, không nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội này thì không có khả năng ngồi trong trái tim của giác ngộ.”
Phổ Dũng hỏi: “Thưa Thế tôn, con có điều thắc mắc, có thể hỏi được chăng?”
Ðức Thế tôn đáp : “Phổ Dũng, ông có thắc mắc gì, Như lai sẽ vì ông mà giải đáp.”
Phổ Dũng nói : “Thưa Thế tôn, đức Liên Hoa Tạng Như lai có nói về vị thánh nhân giúp nhiều chúng sinh diệt nghiệp ngũ nghịch, rồi đặt từng người vào thánh vị Tu đà hoàn. Vậy vị thánh nhân đó là ai?”
Ðức Thế tôn đáp:
“Phổ Dũng đại bồ tát
Lời nói của Như lai
Rất thâm sâu vi diệu
Ông hãy nghe cho kỹ
Chính kinh Ðại Tập Hội
Là bản thân Chánh Pháp
Hóa hiện làm thánh nhân
Chính kinh Ðại Tập Hội
Là Pháp sư giảng pháp
Hóa hiện thân Phật đà
Nhiều như cát sông Hằng
Sắc tướng thật phong phú
Thân Phật nói pháp Phật
Vén mở cả kho tàng
Tinh túy của Chánh Pháp
Nếu có chúng sinh nào
Khao khát gặp chư Phật
Thấy được Ðại Tập Hội
Là thấy được Như lai
Ðại Tập Hội ở đâu
Như lai ngay nơi ấy.”

Ðức Phật lại nói:
“Thiện nam tử, ông hãy nghe đây.
Trong quá khứ, 99 thời kỳ vô số về trước, có 12 triệu Phật đà cùng tên là Ratnottama.
Như lai lúc ấy đang là vị đại thí chủ, chí tâm cúng dường 12 triệu Phật đà tên Chandra, mang đồ ăn thức uống, hương thơm, hương xoa, vòng hoa.
Tất cả những gì có thể làm vui lòng Phật, Như lai đều cúng dường đủ cả.
Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
“Phổ Dũng, Như lai còn nhớ trong kiếp quá khứ có 18 triệu Phật đà tên gọi Ratnavabhasa.
Như lai lúc bấy giờ cũng đang là vị đại thí chủ, đã cúng dường 18 triệu Như lai tên gọi Garbhasena với đầy đủ vòng hoa, hương xoa, vật trang trí và trang sức.
Bất cứ điều gì thích hợp với vị Phật nào, Như lai đều cúng dường đủ cả. Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
“Phổ Dũng, Như lai còn nhớ 20 triệu đức Phật cùng mang tên Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Shikhisambhava.
Phổ Dũng, Như lai cũng nhớ 20 triệu đức Phật cùng mang tên Kashyapa.
Lúc bấy giờ Như lai cũng đang là một vị đại thí chủ, cúng dường chư Phật với hương liệu, vòng hoa, hương xoa, hết lòng tôn kính phụng sự.
Bấy giờ Như lai được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
“Phổ Dũng, lại có 16 triệu đức Phật cùng tên là Vô Cấu Quang [Vimalaprabhasa]. Lúc ấy Như lai đang là một đại trưởng giả, tiền của rất nhiều.
Như lai mang hết tài sản cúng dường chư Phật và được thọ ký tương lai sẽ thành bậc chánh giác. Tuy nhiên thời gian vẫn chưa chín mùi.
“Phổ Dũng, ông hãy nghe đây. Lại có 95 triệu đức Phật sinh ra trong thế giới, cùng tên là Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Shakyamuni.
Lúc ấy Như lai đang là vị quốc vương, mang hương thơm, vòng hoa, hương xoa, y phục, trang sức, hương đốt, tràng phan và được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Như lai hãy còn nhớ rất rõ.
“Phổ Dũng, lại có 90 triệu đức Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri cùng tên là Krakutsanda.
Lúc ấy Như lai đang là một thanh niên thuộc giai cấp bà la môn, nhiều tiền lắm của, mang hết của cải ra cúng dường chư Như lai, với hương thơm, vòng hoa, hương xoa, y phục, trang sức và đích thân phụng sự cho từng vị Như lai. Bấy giờ được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
Như lai còn nhớ. Nhưng thời gian vẫn chưa chín mùi.
“Phổ Dũng, lại có 18 triệu Phật đà, cùng tên là Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Kanakamuni.
Lúc ấy Như lai đang là vị đại thí chủ, cúng dường tất cả các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri ấy, và được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Nhưng thời gian vẫn chưa chín mùi.
“Phổ Dũng, lại có 13 triệu Phật đà, cùng tên là Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Avabhasashri.
Lúc ấy Như lai cúng dường chư Phật ấy với y phục, trang sức, hương thơm, vòng hoa, hương xoa, chăn mền và trang trí.
Cần phụng sự cúng dường ra sao, Như lai đều chu toàn đầy đủ.
Các đức Như lai ấy giải thích rộng rãi về ý nghĩa của chánh pháp cho các đệ tử.
Và Như lai lúc ấy được thọ ký trong tương lai sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Nhưng thời gian vẫn chưa chín mùi.
“Phổ Dũng, lại có 25 triệu Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri cùng tên là Diệu Hoa [Pushya].
Lúc ấy Như lai đang là người xuất gia, cung kính cúng dường tất cả các đấng Như lai ấy, làm những việc tôn giả A Nan ngày nay làm cho Như lai, không sai khác.
Lúc ấy Như lai cũng được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Nhưng Như lai còn nhớ, thời gian lúc ấy vẫn chưa chín mùi.
“Phổ Dũng, lại có 12 triệu Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri cùng tên là Vipashyin.
Như lai lúc bấy giờ cúng dường các bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri ấy với y phục, trang sức, hương thơm, vòng hoa, hương xoa.
Các đấng Như lai ấy cần gì, Như lai đều chu toàn đầy đủ.
Vào lúc ấy, Như lai đang là người xuất gia, và ngay lúc ấy Như lai còn nhớ đã được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
Khi đức Phật Vipashyin cuối cùng nói về Chánh Pháp Ðại Tập Hội này, Như lai nghe qua đã hiểu.
Ngay lúc ấy, trên trời mưa xuống bảy loại châu báu quí giá, cõi thế gian không còn kẻ bần cùng và cũng ngay lúc ấy, Như lai lại được thọ ký sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
Từ đấy về sau, trải qua một thời gian dài Như lai không còn nhận sự thọ ký.”
Bồ tát Phổ Dũng hỏi: “Thưa Như lai, thời gian ấy là gì? Duyên ấy là gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Phổ Dũng, ông hãy nghe đây. Một thời kỳ vô số sau ngày hôm ấy, có đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Nhiên Ðăng [Dipamkara] xuất hiện trên cõi thế gian. Lúc ấy, Như lai đang là một thanh niên thuộc giai cấp bà la môn tên là Megha.
Khi Như lai Nhiên Ðăng [Dipamkara] nhập thế, Như lai đang tu phạm hạnh dưới dạng bà la môn. Khi gặp Như lai Nhiên Ðăng, thanh niên ấy rải bảy nhánh hoa ưu đàm cúng dường, hồi hướng vô thượng bồ đề.
Bấy giờ Như lai Nhiên Ðăng thọ ký cho thanh niên ấy sẽ thành đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri tên Thích Ca Mâu Ni.
“Phổ Dũng, khi ấy, Như lai ngồi trong không gian, cao bằng mười hai cây sa la, đạt vô sinh pháp nhẫn.
Như lai nhớ rõ như mới hôm qua, Như lai thấy rất rõ tất cả những gốc rễ điều lành mà Như lai đã cấy trồng từ khi xuất gia tu phạm hạnh trải qua vô số kiếp và đạt được những đức tính toàn hảo.
Phổ Dũng, ngay từ thời gian ấy Như lai đối với vô số lần trăm ngàn triệu tỉ chúng sinh, đã phát nguyện dẫn dắt từng người vào với chánh pháp.

Huống chi bây giờ Như lai đã thành tựu vô thượng bồ đề, sẽ vì chúng sinh mà tạo lợi ích lớn lao
Phổ Dũng, Như lai sẽ dạy cho chúng sinh Phật Pháp vi diệu thậm thâm.
Chúng sinh có nhu cầu gì, Như lai sẽ dạy Phật Pháp phù hợp với nhu cầu ấy.
Ở cõi trời, Như lai dùng thân trời để dạy Phật Pháp.
Ở cõi rồng, Như lai dùng thân rồng để dạy Phật Pháp.
Ở cõi dạ xoa, Như lai dùng thân dạ xoa để dạy Phật Pháp.
Ở cõi quỉ đói, Như lai dùng thân quỉ đói để dạy Phật Pháp.
Ở cõi người, Như lai dùng thân người để dạy Phật Pháp.
Chúng sinh nào cần Phật dạy dỗ, Như lai liền hiện thân Phật để dạy dỗ.
Chúng sinh nào cần Bồ Tát dạy dỗ, Như lai liền hiện thân Bồ Tát để dạy dỗ.
Bất cứ chúng sinh cần gì, Phật hóa hiện thân ấy để dạy Phật Pháp.
Phổ Dũng, Như lai dùng đủ loại sắc tướng để dẫn dắt chúng sinh.
“Phổ Dũng, vì sao Như lai lại dùng nhiều sắc tướng như vậy?
Là vì để chúng sinh tích lũy nhiều loại thiện căn.
Chúng sinh sẽ tu hạnh thí, tạo công đức, quên cả nghỉ ngơi để tự cứu mình, sẽ hành thiền, sẽ không quên sinh tử, thiện nghiệp nào có thể làm được, họ sẽ làm đủ.
Nhờ nghe chánh pháp, họ sẽ nhớ lại gốc rễ điều lành đã làm trong quá khứ.
Làm như vậy là để nhắm vào lợi lạc lâu dài trong cõi trời và người.
“Phổ Dũng, chúng sinh ấy khi được nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội, mọi đức tính, mọi lợi lạc, mọi thiện căn đều trở nên không giới hạn.
“Lúc bấy giờ, chúng sinh ấy sẽ nói với nhau như sau: ‘Với những việc đã làm và đã thu thập trong chánh pháp tùy thuận vô thượng bồ đề và tâm nguyện lợi ích chúng sinh, nhất định quả lành phải đến.’
Chúng sinh tin tưởng trong sáng nơi Phật Pháp, sẽ nói:
‘Có một Pháp hoàn toàn phù hợp với thực tướng của sự vật’, nhờ niệm hoan hỉ này mà được quả an lạc trong chánh pháp.
Còn chúng sinh nào mê muội, điên rồ, sẽ nói: ‘Các pháp không có và cũng không có gì siêu việt các pháp.’
Vì niệm bất tín này mà thành quả rơi vào ác đạo, trầm luân cõi dữ. 8 kiếp chịu khổ đau địa ngục. 12 kiếp chịu khổ đau quỉ đói. 16 kiếp sinh cõi A Tu La. 9 ngàn kiếp sinh làm ác quỉ yêu tinh.
Quả dữ cạn rồi lại sinh vào loài người, nhưng 14 ngàn kiếp sinh ra không lưỡi.
16 ngàn kiếp chết trong thai mẹ. 12 ngàn kiếp sinh làm hòn thịt.
11 ngàn kiếp sinh làm người mù, chịu mọi khổ đau, khiến cha mẹ tiếc công sinh dưỡng.
Phải chịu nóng lạnh, đói khát, khổ đau bức bách. Ðến bậc cha mẹ cũng cảm thấy tuyệt vọng, không chút niềm vui.
“Phổ Dũng, chúng sinh nào từ bỏ chánh pháp, phải chịu luân hồi trong cõi địa ngục và súc sinh.”
[HẾT PHẦN KINH ÐẠI TẬP HỘI DỊCH TỪ CHỮ TẠNG]
[BẮT ĐẦU PHẦN KINH ÐẠI TẬP HỘI DỊCH TỪ CHỮ PHẠN]
“Khi chết đi, sầu muộn nung nấu. Phổ Dũng, người nào nói rằng: “Chánh pháp có thật, có ý nghĩa sâu xa nơi các pháp.”
Nhờ thiện căn đó mà 20 kiếp sinh vào cõi Uttarakurus, 25 ngàn kiếp sinh vào tầng trời Trayastrimsha,
Khi quả báo ấy hết, lại sinh vào cõi Uttarakurus, sẽ không sinh từ thai mẹ, sẽ thấy 100 ngàn thế giới, thấy được tất cả các cõi Phật Sukhavati [Tịnh độ], an trú nơi ấy, tại nơi ấy thành tựu vô thượng bồ đề.
“Phổ Dũng, diệu dụng của kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội là như vậy.
Chúng sinh nào tin tưởng sâu xa kinh này sẽ không thể chết thảm, sẽ đầy đủ đức hạnh.
Phổ Dũng, có người tự hỏi: ‘Như lai ngày đêm giải thoát vô lượng chúng sinh, vậy mà số lượng chúng sinh trong cõi luân hồi vẫn không giảm.
Có nhiều người giác ngộ, hoặc sinh vào cõi trời, hoặc được nguồn an lạc. Vậy tại sao chúng sinh luân hồi vẫn không giảm bớt?’
Lại có những người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn mày, người vô tín ngưỡng, có ý nghĩ như sau :’Chúng ta phải đến chất vấn Cồ Ðàm về điều này.’ ”
Do đó có 94 kẻ ngoại đạo, kẻ lang thang, tu sĩ ăn mày, bà la môn, cùng hàng trăm người vô tín ngưỡng cũng kéo đến thành Vương Xá.
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn mỉm cười.
Thấy vậy, đại bồ tát Di Lặc từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa rằng:
“Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà Thế tôn mỉm cười? Không phải vô cớ mà đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri lại mỉm cười như vậy.”
Ðức Thế tôn nói: “Thiện nam tử, ông hãy nghe đây. Ngày hôm nay, có một đoàn người rất đông sẽ tiến đến thành Vương Xá này.”
Bồ tát Di Lặc hỏi: “Thưa Thế Tôn, ai sẽ đến đây? trời, rồng, dạ xoa, loài người hay loài không phải người?”
Ðức Thế tôn đáp: “Di Lặc, tất cả trời, rồng, dạ xoa, loài người và loài không phải người đều sẽ đến đây ngày hôm nay.
Cả 84 ngàn vị bà la môn cũng sẽ đến; 90 ngàn triệu kẻ ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn mày và người vô tín ngưỡng cũng sẽ đến đây chất vấn Như lai.
Như lai sẽ nói Pháp cho họ nghe, khiến họ không còn nghi hoặc. Các vị bà la môn sẽ phát tâm vô thượng bồ đề.
9 triệu triệu ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn mày và người vô tín ngưỡng sẽ đạt quả Tu đà hoàn.
18 ngàn triệu long vương sẽ đến, nghe Như lai thuyết pháp xong sẽ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
60 ngàn triệu thiên tử Tịnh Quang, sẽ đến. Thiên ma cùng 32 ngàn triệu tùy thuộc cũng sẽ đến. 12 ngàn triệu a tu la vương sẽ đến.
Các vị đại vương, tất cả có 500, sẽ đến cùng tùy thuộc. Tất cả sau khi nghe Như lai thuyết Pháp, đều sẽ phát tâm vô thượng bồ đề.”
Nghe vậy, đại bồ tát Di Lặc mang đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế tôn, theo hướng bên phải của đức Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình biến mất ngay nơi ấy.
Ðại bồ tát Phổ Dũng lúc ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa rằng:”Thưa Thế tôn, 500 vị đại vương sẽ đến đây, tên là gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Phổ Dũng ông hãy nghe đây. Trong số các vị đại vương ấy có:
Đại vương Hoan Hỷ [Nanda],
Đại vương Diệu Hỷ [Sunanda],
Đại vương Tối Thượng hỷ [Upananda],
Đại vương Nhân Tiên [Jinarsabha],
Đại vương Tịnh Quân [Brahmasena],
Đại vương Phạm Ân [Brahmaghosha],
Đại vương Thiện Kiến [Sudarshana],
Đại vương Thắng Quân [Jayasena],
Đại vương Hỷ Quân [Nandasena],
Đại vương Tần-bà-sa-la [Bimbisara],
Đại vương Ba-tư-nặc [Prasenajit],
Đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka],
Như vậy tất cả năm trăm vị đại vương, mỗi vị dẫn theo 2 triệu triệu tùy thuộc.
Tất cả đều phát tâm vô thượng bồ đề, ngoại trừ đại vương Tăng Trưởng [Virudhaka].”
Bấy giờ phương Ðông có 30 ngàn triệu bồ tát, Phương Ðông Nam cũng vậy.
Phương Nam có 80 ngàn triệu bồ tát, phương Tây Nam cũng vậy.
Phương Tây có 60 ngàn triệu bồ tát, phương Tây Bắc cũng vậy.
Phương Bắc có 80 ngàn triệu bồ tát, phương Ðông Bắc cũng vậy.
Không gian phía trên có 100 ngàn triệu bồ tát.
Không gian phía dưới có 90 ngàn triệu bồ tát.
Các vị bồ tát từ 10 phương đang tiến về thành Vương Xá, đỉnh Linh Thứu, để hội diện cùng đức Thế tôn.
Tất cả các vị bồ tát này đều an trú thập địa.
Lúc ấy, Phật bảo đại bồ tát Phổ Dũng: “Phổ Dũng, ông hãy đến mười phương thế giới, báo với tất cả các vị bồ tát rằng:
‘Hôm nay, tại thành Vương Xá, Như lai sẽ tuyên thuyết chánh pháp, mời tất cả những ai trú trong mười phương thế giới hãy hoan hỉ tùy thuận, chắp tay đảnh lễ.’ Ông hãy khéo đi nhanh, rồi về đây nghe Pháp.”
Nghe xong, đại bồ tát Phổ Dũng từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế tôn, theo hướng bên phải của đức Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi vận dụng thần thông, thân hình biến mất ngay nơi ấy.
Ðại bồ tát Phổ Dũng theo lời đức Thế tôn, đi đến mười phương thế giới báo tin cho các vị bồ tát:
“Hôm nay đấng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri Thích Ca Mâu Ni sẽ nói chánh pháp tại thành Vương Xá cõi Ta bà.
Xin quí bồ tát tùy thuận hoan hỉ, ngày hôm nay sẽ là ngày lợi lạc lớn của tất cả.”
Bồ tát Phổ Dũng đi như vậy khắp cả 10 phương thế giới, cung thỉnh vấn an mọi Phật đà và tin cho mọi bồ tát, chỉ trong thời gian một búng tay đã trở về lại thành Vương Xá, cạnh đức Thế tôn.
Tất cả ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn xin, người vô tín ngưỡng và bà la môn đều tụ họp nơi đó.
Các loài trời, rồng, loài người và loài không phải người cùng 500 vị đại vương cùng tùy thuộc. 33 ngàn triệu ma vương, loại dữ nhất, cũng tụ họp cùng tùy thuộc.
Lúc bấy giờ thành Vương Xá chấn động, trên trời mưa xuống bụi trầm hương thơm ngát, lại mưa xuống những đóa hoa trời, kết thành chiếc lọng to lớn trên đỉnh đầu đức Thế tôn.
Ngay lúc ấy, thiên vương Ðế Thích thả sấm sét xuống khoảng không trước mặt Như lai.
Bốn ngọn gió lớn nổi lên từ bốn hướng, quét sạch bụi uế trong thành.
Mười phương thế giới mưa xuống những hạt nước thơm trong, rồi lại mưa xuống Hoa Ưu đàm, hoa padmas, hoa kumudas, hoa sen quí, kết thành chiếc lọng hoa rực rỡ trên đỉnh đầu của mỗi vị trong Pháp hội, lại kết thành 84 ngàn thành trì trên không trung ngay trên đầu đức Như lai.
Nơi 84 ngàn thành trì kết bằng hoa quí ấy, 84 ngàn tòa sen được dựng lên, như kết bằng bảy loại ngọc quí.

Trên mỗi tòa sen là một đấng Như lai đang tuyên giảng chánh pháp.
Khi ấy ba ngàn đại thiên thế giới chấn động sáu cách.

Ðại bồ tát Phổ Dũng thấy vậy chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn hỏi:
“Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà thành Vương Xá hôm nay lại có điềm lành hy hữu như vậy?”
Ðức Thế tôn nói: “Ví như có người tâm trí bất định, hoang mang, kiêu ngạo và ích kỷ, lại nghèo.
Người ấy trong cơn kiêu ngạo, đến trước cung vua, nghĩ rằng: ‘vua phải nhường ngôi cho mình’, nên đập cửa muốn vào.
Quần thần bắt lại, đánh đập thê thảm.
Ngay lúc ấy, vua nghe được, hỏi vì sao người kia lại xông vào cấm điện.
Nghe xong sự tình, vua nghĩ: ‘người này muốn hại ta.’ Nên bảo quần thần: ‘mang hắn lên vách núi giết quách đi.
Giết luôn tất cả những gì thuộc về hắn, cha mẹ, con cái, tôi tớ giúp việc.’ Vì vậy, cả gia tộc bị giết cả.
Thân nhân rơi vào cảnh ngộ cực kỳ bi thảm. Phổ Dũng, tương tự như vậy, Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri tuyên thuyết chánh pháp cho chúng sinh.
Kẻ phàm phu cũng như kẻ kiêu ngạo điên rồ kia, thấy được sắc tướng bên ngoài, hình dạng, màu sắc, giới phái, dung mạo của Phật, lại cho rằng ‘Ðây là thân Phật.’
Những người như vậy nghe càng nhiều Phật Pháp càng trở nên kiêu ngạo, càng biếng lười, không tu chỉ ham nói.
Dần dà chỉ còn biết có mình, ích kỷ thiển cận, tự mình không nghe chánh pháp, cũng không có lòng cầu mong chánh pháp.
Nếu có ai nói kinh, dù chỉ một bài kệ bốn câu, họ cũng chẳng chuyên chú nghe, chẳng cố gắng hiểu, cho rằng :’Ta thừa biết rồi.’
Vì sao? Vì ngã mạn nên quay lại chiêm ngưỡng trí tuệ của chính mình.
Những người như vậy thích giao du với bạn chẳng lành, không ham nghe chánh pháp, thường khởi tâm lý dễ dãi với chính mình.
Lại hay viết thi kệ, tự sáng tác kinh điển, kinh truyện. Họ mang bất hạnh lớn đến cho người khác và cho chính mình.
Họ cũng ăn nhiều món cúng dường một cách vô ích, ăn rồi không tiêu hóa nổi. Ðến lúc gần chết, chịu nỗi sợ hãi lớn lao.
Người xung quanh mới hỏi: ‘ông đã dùng trí tuệ tinh xảo, dẫn dắt rất nhiều người, nay sao lại không thể chu toàn cho chính mình?’
Người ấy sẽ nói: ‘Này các đạo hữu, nay tôi không thể chu toàn cho chính mình.” Khi ấy mọi người mới kinh hoàng khóc than đủ cách.
Vì hành động của một người mà thân nhân quyến thuộc dù vô tội cũng bị họa lây.
Tương tự như vậy, những người kia khi gần chết cất tiếng khóc than, thấy mình bị trói buộc vào cõi địa ngục, vào thai súc sinh. Tất cả chỉ vì lỡ noi theo người dẫn đường không xứng đáng.
“Vì vậy, Như lai nói với các ông, hỡi người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn xin và bà la môn, các ông đừng mê muội.
Chim non chưa mọc cánh, chưa thể vượt trời rộng lên đến cõi Trời.
Các ông cũng vậy, không thể đạt Niết Bàn. Thần lực ấy, các ông chưa có.
Vì sao? Vì xét về nghiệp quả, nghiệp của các ông không khác gì nghiệp của loài chim kia.
Chẳng bao lâu thân thể các ông sẽ rã tan trong cái chết.
Ðến khi gần chết chỉ còn nỗi sợ hãi lớn lao: “Ta đã làm gì với thân này, sao bây giờ không thể vui nỗi vui của trời và của người, cũng không thể trú ở Niết Bàn, thật uổng phí thân người.
Tương lai rồi sẽ về đâu? Ðâu sẽ là nơi cho ta nương tựa? Rồi ta sẽ sinh vào đâu, sẽ diệt về đâu?”
Ðức Thế tôn lại nói với người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn xin và bà la môn:
“Các ông đừng vì cõi Diêm phù với bảy loại ngọc báu mà tuyệt vọng. Cũng đừng tự loại mình ra khỏi kho tàng chánh pháp. Có gì nghi hoặc, các ông hãy hỏi Như lai, Như lai sẽ vì các ông mà trả lời.”
Lúc bấy giờ, các vị ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, tu sĩ ăn xin, người vô tín ngưỡng và bà la môn đứng lên từ chỗ ngồi, lấy tay áo che vai, chắp tay hỏi đức Thế tôn:
“Ðức Thế tôn ngày đêm lúc nào cũng giải thoát chúng sinh ra khỏi luân hồi, không ngơi nghỉ. Vậy tại sao số lượng của chúng sinh trong luân hồi vẫn không tăng không giảm? Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà chúng sinh vẫn triền miên sinh diệt không hề giảm?”
Lúc ấy, đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Vương: “Dược Vương, người ngoại đạo mặc áo giáp tinh tấn, nêu lên vấn đề hệ trọng, có khả năng xua tan phiền não, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp.
Ðúng thật như vậy, Dược Vương, sau này sẽ không còn chúng sinh nhiều tuổi hay ít tuổi tạo cảnh sinh diệt luân hồi. Dược Vương, chúng sinh có hai loại, hoặc nhiều tuổi, hoặc ít tuổi, mê muội chẳng biết gì.
“Dược Vương, nói ví như có người gội đầu, mặc áo mới, bước ra đường. Ai thấy cũng khen đẹp. Lại có người thấy vậy, cũng gội đầu, mặc áo bước ra đường. Ðầu tuy gội, như áo đã cũ không sạch không thơm.
Dược Vương, người nhiều tuổi cũng như áo cũ, không thể làm đẹp cõi Diêm phù. Người ít tuổi, ngược lại, có thể biết được lẽ sinh diệt.”
Lúc ấy các ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, người vô tín ngưỡng, tu sĩ ăn xin và bà la môn hỏi đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, thế nào là nhiều tuổi, thế nào là ít tuổi?”
Ðức Thế tôn đáp: “Nhiều tuổi là chúng sinh triền miên trong cảnh khổ đau luân hồi ác đạo mà không biết chán, không cầu giải thoát.”
Khi ấy, tất cả ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, người vô tín ngưỡng, tu sĩ ăn xin và bà la môn, cùng các long vương thưa với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, chúng tôi không sao chịu nổi khổ đau luân hồi.”
Rồi những người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, người vô tín ngưỡng, tu sĩ ăn xin và bà la môn lại nói: “Không có người nào ít tuổi mà lại có khả năng trực nhận chân tướng của thực tại .”
Ðại bồ tát Dược Vương lúc bấy giờ thưa cùng đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, hãy xem tinh tấn khó đến độ nào.”
Ðức Thế tôn nói, “Dược Vương, ông hãy lắng nghe. Bây giờ Như lai sẽ thu tóm toàn bộ thế giới.”
Lúc ấy, 94 ngàn triệu người mới sinh, đứng trước mặt Như lai, không thưa, không chào, cũng không hỏi đáp gì với Như lai, chỉ đứng yên lặng như vậy.
Ðại bồ tát Dược Vương hỏi đức Như lai: ‘Kính thưa Như lai, vì lý do gì họ đến trước Như lai lại không thưa không nói, không chào không hỏi?”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, vì có người nói ‘người ít tuổi không thể trực nhận chân tướng của thực tại”, nên những người ít tuổi này mới hiện ra đây cho ông thấy.”
Những người ấy nói: “Thưa Thế tôn, chúng con là kẻ mới sinh. Thưa Như lai, chúng con là kẻ mới sinh.”
Ðức Thế tôn nói: “Các ông hãy trực nhận thế giới này cho kỹ, rồi chỉ cho Như lai thấy giới hạn của thế giới từ thân hình của các ông.”
Lúc ấy, 94 ngàn triệu người mới sinh bay lên không gian, sắc thân tan rã, an trú thập địa.
Ðại bồ tát Dược Vương cất lời tán thán: “Thưa Thế tôn, những người này tinh tấn vượt bực, khéo đạt pháp diệt, vượt thoát sinh tử luân hồi.
Thưa Thế tôn, họ mới sinh ra hôm nay, cũng ngay trong ngày hôm nay họ được giải thoát, bước vào thập địa.”
Khi ấy, người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, người vô tín ngưỡng, tu sĩ ăn xin và bà la môn, long vương, ma vương, cùng tùy thuộc, lúc đầu toan đến phá rối, bây giờ đều cất tiếng nói với đức Thế tôn:
“Thưa Thế tôn, chúng con đến trước mặt Như lai định gây rối loạn. Nay nghe được chánh pháp này, sinh lòng tin tưởng trong sáng nơi Phật, nơi Pháp. Nguyện an lạc như Như lai an lạc, nguyện thành bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, trong thế giới này.”
Ðức Thế tôn nói: “Tốt lắm, tốt lắm! các ông đến đây gặp Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội này rồi phát tâm vô thượng bồ đề.
Nhờ gốc rễ điều lành ấy, các ông sẽ mau chóng thành tựu chánh đẳng chánh giác.”
Ðức Thế tôn nói xong. Tất cả người ngoại đạo, khổ hạnh lang thang, người vô tín ngưỡng, tu sĩ ăn xin và bà la môn tức khắc đạt Vô Sinh Pháp Nhẫn, chứng quả thập địa bồ tát.
Rồi cùng thăng lên không gian cao bằng bảy cây đa la, dùng thần lực điều khiển hóa hiện bảy tòa lầu thành bằng ngọc quí, cúng dường Như lai.
Lại đứng trên đỉnh của đức Thế tôn, rãi lên mình Như lai các loại hoa quí, chiêm bái Như lai, mang chánh niệm Như lai về thể hiện ngay trong sắc thân của chính mình.
Bấy giờ, hàng 100 ngàn triệu tỷ thiên tử đang đứng trên tầng không đồng loạt mang hoa báu rãi trên mình Như lai, đọc bài kệ này:
“Sa môn Cồ Ðàm
Là bậc tối thắng
Là đại phước điền
Là đại cứu độ
Thành tựu Tam Muội
Trí biết cùng khắp
Tròn đầy viên mãn
Ðối với chúng sinh
Trầm luân luân hồi
Ngài luôn vận dụng
Phương tiện thiện xảo
Lần lượt cứu độ
Tất cả mọi loài
Không sót một ai”
Bấy giờ đại bồ tát Dược Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn thưa rằng:
“Thưa Thế tôn, vì lý do gì mà những vị thiên tử này lại hát bài kệ, thị hiện thần thông, dùng lời phong phú thiết tha tán dương công hạnh của Như lai như vậy?”
Ðức Phật bảo: “Thiện nam tử, ông hãy nghe đây. Không phải họ tán dương Như lai mà tán dương chính bản thân họ.
Rồi họ sẽ đặt thân mình trụ trên tòa Pháp, sẽ đặt thân mình trụ trên tòa Pháp vô thượng, sẽ từ thân mình phóng ra ánh sáng chánh pháp, sẽ được tất cả Như lai giữ gìn, sẽ thành tựu vô thượng bồ đề, sẽ chuyển pháp luân, giảng giải sâu rộng về chánh pháp thâm diệu.”
Lúc ấy đại bồ tát Dược Vương thưa với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, mỗi ngày đêm, có biết bao nhiêu chúng sinh được giải thoát, sao đến nay luân hồi vẫn chưa cạn?”
Ðức Thế tôn đáp:
“Tốt lắm, Dược Vương, ông hỏi Như lai như vậy là tốt lắm.
Ông hãy nghe đây. Ví như có một phú ông, tiền rừng bạc biển. Người ấy có nhiều tiền, nhiều hạt, nhiều kho bồ, nhiều gia nô, tá điền.
Lại rất nhiều tài sản, ruộng vườn, lúa mạch, lúa mì, lúa gạo, hạt mè, hạt đậu cả trăm giống loại đều dồi dào đầy đủ.
Mùa Xuân gieo hạt, sang Thu hạt chín gặt về chất vào kho. Hạt về tới kho, giống nào cất riêng giống nấy, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của phú ông.
Ðến mùa Xuân năm sau lại mang hạt ra cấy. Dược Vương, chúng sinh cũng vậy, trong quá khứ làm việc thiện, đều đặn cấy trồng ruộng phước, trồng gốc rễ điều lành khi việc làm chấm dứt.
Gốc rễ điều lành cấy xuống, nhờ thiện pháp ấy mà công phu tu tập sẽ trổ quả.
Trồng nhân lành hái quả lành, cứ như vậy làm mãi, thiện pháp càng thêm tăng. Rồi nhờ thiện pháp tăng trưởng mà tâm được bình an hỉ lạc. Nhờ tâm bình an hỉ lạc mà trải qua hàng ngàn triệu kiếp, thiện pháp vẫn không hư hoại.
“Dược Vương, bồ tát mới phát tâm cũng vậy, nhờ phát tâm nguyện bồ đề dũng mãnh mà thiện căn không hư hoại, nắm giữ thiện căn trong dạng tinh túy nhất.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát tâm, trong mơ thường thấy gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, bồ tát mới phát tâm trong mơ thường thấy cảnh dữ.
Vì sao? Trong mơ gặp cảnh dữ thì giải được nghiệp cũ. Dược Vương, người ác không thể tránh khổ đau. Nhưng bồ tát thấy cảnh dữ trong mơ thì tâm không khiếp sợ.
Dược Vương lại hỏi: “Thưa Thế tôn, bồ tát mới phát tâm, trong mơ thường thấy cảnh dữ gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, bồ tát mới phát tâm, một là mơ thấy lửa cháy, khi ấy phải nghĩ rằng, “lửa này đốt tan tham dục .”
Dược Vương, hai là mơ thấy nước xoáy, bồ tát mới phát tâm chớ nên sợ hãi.
Vì sao? Dược Vương, khi bồ tát ném hết ràng buộc phiền não thì tà ma đều bị diệt cả. Dược Vương, ba là mơ thấy cảnh tượng cực kỳ dữ dằn.”
Dược Vương hỏi: “Là cảnh gì, thưa Thế tôn?”
Ðức Thế tôn đáp: “Thấy đầu mình bị chém. Dược Vương, lúc ấy bồ tát mới phát tâm cũng không nên sợ hãi.
Vì sao? Lúc ấy phải nghĩ: “Tham, sân, si ta chặt lìa. Luân hồi sáu cõi, ta chiến thắng cả.” Bồ tát mới phát tâm sẽ không bao giờ vào cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, A Tu La, rồng, trời, mà chỉ sinh vào cõi Phật.
“Dược Vương, trong tương lai, ở một thời về sau, nếu có ai có được niệm bồ đề, người ấy sẽ bị trách móc, khinh khi.
Dược Vương, khi ấy bồ tát đã phát tâm bồ đề không được sinh tâm buồn nản, không được trú ở tâm buồn nản ấy.
“Dược Vương, Pháp Như lai dạy, nhiều vô kể. Cả trăm ngàn lần vô số kiếp Như lai siêng tu phạm hạnh.
Dược Vương, việc khó làm Như lai đều làm cả, không vì thế lực, không vì hạnh phúc thế gian, cũng không vì thần thông.
Dược Vương, việc khó làm Như lai gánh hết, chỉ để hiểu được chân tướng của thực tại.
Và trước khi được nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội, Như lai không được quả vô thượng bồ đề.
Ngay lúc được nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội, Như lai đạt vô thượng bồ đề.
Vì vậy ông phải biết Chánh Pháp Ðại Tập Hội là pháp cực kỳ sâu xa vi diệu. Dược Vương, cho dù cả trăm ngàn lần vô số kiếp cũng hiếm mà được nghe Chánh Pháp Ðại Tập Hội.
Dược Vương, Như lai xuất thế là điều cực kỳ hiếm hoi. Người nghe rồi học thuộc Chánh Pháp Ðại Tập Hội cũng cực kỳ hiếm hoi.
Tất cả những ai được nghe Chánh Pháp này sẽ thành tựu vô thượng bồ đề.
Dược Vương, người ấy trong 100 ngàn kiếp sẽ vượt thoát luân hồi, sẽ sinh vào cõi Phật thanh tịnh, biết rõ pháp diệt, biết rõ pháp căn bản thắng diệu, biết rõ pháp thiện xứ thắng diệu, biết rõ pháp thần thông thắng diệu, biết rõ pháp diệt của thiện xứ thắng diệu.
Dược Vương, nói ‘pháp diệt’, nghĩa là sao?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, ‘diệt’ là chỗ về của Pháp.”
Ðức Thế tôn lại hỏi: “Chỗ về của Pháp là gì?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, Pháp là ‘tinh tấn’, ‘trì giới’ và ‘đầy đủ giới hạnh.’ Như vậy gọi là Pháp tạng, bao gồm trọn vẹn kho tàng chánh pháp.”
Ðức Thế tôn nói: “Hay lắm, Dược Vương. Ông đối trước Như lai mà đáp được nghĩa này, thật là hay lắm.”
Dược Vương hỏi, “Thưa Thế tôn, vì lý do gì các đấng Như lai xuất hiện cõi thế?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, người nào biết về kho tàng trí tuệ thì sẽ biết sắc tướng Như lai. Biết được sắc tướng Như lai thì biết sắc tướng Như lai là nơi an lạc thắng diệu.
Rồi khi Như lai xuất hiện cõi thế, người ấy sẽ thông đạt các Pháp, khéo léo phương tiện, biết rõ mọi việc thế gian và xuất thế gian, lại biết rõ về trí tuệ thế gian và trí tuệ xuất thế gian.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, biết rõ về trí tuệ rồi, làm sao hiểu Niết Bàn?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, biết chân tướng của pháp thì biết được Niết Bàn. Vì biết chân tướng của pháp nên được căn lành đầu tiên của người biết tập hợp vạn pháp. Ðối với vạn pháp có được cái nhìn đúng như sự thật, lợi lạc nhất định lớn lao.
Dược Vương, giống như một thương gia, đi xa làm giàu, thu góp vàng bạc của người và của mình, tất cả 1.000 nén vàng.
Trước khi lên đường, cha mẹ dặn dò: ‘Con yêu quí, mang vàng bạc của mình và của người, nhiều những 1.000 nén, phải thận trọng đừng để thất thoát uổng phí đi. Kiếm được nhiều lợi, phải giữ vàng cho cẩn thận.
Ðó là sẽ món lợi lớn cho chúng ta, cho chúng ta cuộc sống hạnh phúc.’
Người con đáp: ‘con sẽ cẩn thận.’ Rồi mang vàng lên đường.
“Chưa được một tháng, số vàng đã phần thì mất, phần thì phung phí, một nén cũng không còn. Người ấy buồn rầu lo nghĩ, trái tim đau nhức bởi mũi tên âu sầu.
Quá lo lắng, xấu hổ, người ấy không tìm về lại nhà.
Cha mẹ ở nhà nghe thiên hạ nói: ‘Bao nhiêu vàng, con của hai người tiêu phí cả rồi.’
Nghe vậy, họ tuyệt vọng, tim đau nhức bởi mũi tên âu sầu.
Họ khóc vật vã, xé áo xé quần, nói rằng: ‘Thằng con bất hiếu! Vì nó mà cả nhà bị vạ lây! Ðã không làm được gì cho cha mẹ, lại còn biến tất cả thành kẻ tôi đòi.’
Cha mẹ người ấy vì quá sầu khổ lo lắng tuyệt vọng nên muốn tự vẫn. Khi người con nghe tin cha mẹ muốn tự vẫn, liền trở về nhà, thân lâm trọng bịnh.
Dược Vương, Như lai giải thích việc này như sau: Ðám người kia không tin lời Như lai, đến nỗi tự mình tách lìa chính mình ra khỏi ngọc báu chánh pháp, tuyệt vọng mà tìm cái chết, khi lìa đời trái tim đau nhức bởi mũi tên sầu muộn.
Cũng như cha mẹ người kia, vì ham vàng mà khóc than vật vã, tâm thần xáo trộn, phiền não tột bực, chỉ vì vàng bạc của mình và của người.
Tương tự như vậy, Dược Vương, ai không tin lời Như Lai, tâm bất an, chịu đủ loại phiền não khi gần kề cái chết.
Quá khứ làm được điều lành, đạt được cõi tái sinh tốt đẹp nhưng không biết tiếp tục tích lũy thiện nghiệp, để nghiệp báo cạn hết, tâm chìm trong phiền não.
Bấy giờ thấy được cảnh kinh hoàng cõi địa ngục, thai súc vật và thế giới Diêm Vương, lại nghĩ: ‘Ai che chở cho tôi? để tôi khỏi thấy cảnh địa ngục, súc sinh, quỉ đói, cõi Diêm Vương để tôi khỏi đớn đau nơi đó.’
Người con lâm bịnh, thần trí mê sảng, trôi dần vào cõi chết.
Cha mẹ nói: ‘Con yêu quí, cha mẹ có thể làm gì để giúp con?’
Họ đọc bài kệ:
‘Tuy đau đớn vô cùng
Nhưng con ơi đừng sợ
Bây giờ con chưa chết
Hãy cố gắng vượt qua
Con yêu hãy vững tin,
Rồi con sẽ bình phục’
“Người con đáp:
‘Thần thức mê mờ, thân thể nhức nhối, tứ chi rã tan. Mẹ ơi chắc con đang chết…
Mắt không thấy, tai không nghe, thân không cảm, tứ chi thúc đau như khúc gỗ vô tri. Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ nói cho con nghe, cái chết vẫn chưa đến đi mẹ!’
“Người mẹ đáp: ‘Ðừng nói vậy, con yêu. Con đừng làm mẹ sợ. Con chỉ sốt nóng mê sảng đó thôi.’
“Người con nói: ‘Con không cảm thấy thân con đang sốt, bịnh, hay đau. Chỉ thấy cái chết bủa vây bức bách. Ai cứu con đây? Ai sẽ là người che chở cho con?’
“Cha mẹ bảo rằng: ‘Con trai yêu ơi, con khổ như vậy chắc là vì thần linh đang giận dữ. Hay là đến cúng tế để xin họ che chở cho con?’
“Người con nói: ‘Xin cha mẹ giúp cho con được yên ổn. Cha mẹ hãy đi nhanh, đến đền thờ cầu khẩn nhanh nhanh.’
“Cha mẹ người ấy đến đền thờ, cúng hương bái thần linh.
Cúng hương rồi, người giữ đền nói: ‘Thần linh đang nổi giận với các người. Các người phải cúng tế đúng phép thì mới được yên.
Cần phải giết một người để tế máu, con của các người sẽ khỏi bịnh.’
Khi ấy, cha mẹ người kia bàn với nhau: ‘Phải làm sao bây giờ? Chúng ta quá nghèo. Nếu thần linh không vui, con mình sẽ chết uổng, còn nếu khiến được thần linh vui, con mình sẽ được chở che.
Thôi thì dù nghèo cũng nên kiếm cho ra một nạn nhân tế thần.’
Bàn xong họ chạy vội về nhà, có được chút gì họ bán đi cả, vét hết tiền bạc, lại đi vay thêm của người, hẹn 10 ngày không trả được sẽ đến đợ thân trả nợ.
Gom đủ vàng, họ liền mua một nạn nhân. Mua xong, nạn nhân ấy vẫn không biết mình sẽ thành vật tế thần.
Cha mẹ người kia như cuồng như dại, không về nhà mà đi thẳng đến đền thờ, nói với người giữ đền: ‘Xin hãy chuẩn bị việc tế thần cho nhanh.’
Rồi tự tay giết nạn nhân kia, cướp đi mạng sống của người ấy. Người giữ đền đốt mỡ lên làm đồ cúng, bắt đầu lễ tế thần.
Lúc ấy thần linh giáng xuống, nói rằng: ‘Ta sẽ thâu nhận con trai các người.’
Cha mẹ người ấy vui mừng nhảy nhót, nói với nhau:
“Vậy là con mình tai qua nạn khỏi, dù chúng ta có phải sống kiếp tôi đòi cũng cam tâm.”
Nói xong bái tạ thần linh, quay trở về nhà. Tới nhà thấy ra con mình đã chết.
Cha mẹ đau lòng quá độ, chết ngay tại chỗ.
Dược Vương, cần phải thấy giao du với người bất thiện tai hại đến như vậy.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, xin cho con hỏi một điều.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, ông cứ hỏi.”
Dược Vương nói: “Thưa Thế tôn, những người kia chết rồi sinh về đâu?”
Ðức Phật nói: “Thôi, Dược Vương, ông đừng hỏi việc ấy.”
Dược Vương đáp: “Xin đức Thế tôn mở lòng từ bi nói cho chúng con được biết.”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, người mẹ sinh vào địa ngục Khóc than [Hào khiếu].
Người cha sinh vào địa ngục Núi đè [Chúng hợp]. Người con sinh vào địa ngục Nóng [Viêm nhiệt].
Người giữ ngôi đền sinh vào địa ngục A tỳ.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, còn nạn nhân vô tội kia?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông nên biết rằng người vô tội kia được sinh vào cõi trời thứ ba mươi ba [Trayastrimsha].”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, nhờ nhân gì mà được sinh vào cõi trời thứ ba mươi ba?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương ông hãy nghe đây. Lúc chết, lúc bị cướp đi mạng sống, người ấy nảy một niệm tin tưởng trong sáng nơi Như lai, nói mấy chữ sau đây: “Nam mô Như lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri.”
Chỉ một lần thôi. Nhờ thiện căn ấy mà được sinh vào cõi trời thứ ba mươi ba, sống an lạc 60 kiếp.
Biết được việc trong 80 kiếp về trước. Sinh ra ở đâu cũng không gặp phiền não. Sinh ra là phiền não tan đi. Chắc chắn là chẳng phải ai cũng có thể làm cho phiền não tận diệt.”
Nghe xong, đại bồ tát Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, thế nào là chẳng phải ai cũng có thể làm cho phiền não tận diệt?”
Ðức Thế tôn đáp: ” Dược Vương, cần phải tinh tấn vượt bực.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, làm cách nào để thực hành hạnh tinh tấn?”
Ðức Thế tôn đáp:
“Dược Vương, ông hãy nghe đây. Tinh tấn là tướng hiện của thành tựu.
Quả Tu Đà Hoàn là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Quả Tư Đà Hàm là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Quả A Na Hàm là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Quả khi thành bậc A La Hán là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Quả Duyên Giác và quả Duyên giác trí là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Quả bồ tát và quả Bồ tát trí, là một giai đoạn của hạnh tinh tấn.
Dược Vương, tất cả đều là những giai đoạn của hạnh tinh tấn.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, Tu đà hoàn và quả Tu đà hoàn có tướng hiện như thế nào?”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, ví như có người trồng cây, vừa trồng xuống, cây đã đâm chồi chỉa nhánh sum suê.
Nội một ngày rễ sâu một do tuần. Lại cũng có người trồng cây, khi trồng gặp gió lớn, cây chẳng lên được chồi xanh nào.
Người ấy muốn bứng cây lên. Người kia thấy vậy lên tiếng: ‘Vì sao ông phá đất của tôi?’
Trong lúc cả hai đang dằng co với nhau, nhà vua đi ngang, thấy có trận cãi vã liền bảo quần thần: ‘Gọi hai người ấy đến đây cho ta.’
Quần thần vâng lời, chạy nhanh đến nói: ‘Ðại Vương truyền gọi hai ông.’
Nghe vậy, một người hoảng hốt sợ sệt, còn một người vẫn điềm tĩnh an nhiên. Cả hai đến trước mặt vua. Vua hỏi: ‘Vì cớ gì hai ngươi dằng co, cãi vã với nhau?’
Một trong hai người đứng lên thưa: ‘Thưa Ðại Vương, tôi không có ruộng vườn, chỉ mượn được mảnh đất này trồng cây.
Trồng một ngày, cây đơm hoa kết trái, nửa sống nửa chín. Ngay ngày đó, người kia cũng đến trồng cây, nhưng trong khi trồng gặp gió lớn, cây không thể đâm chồi.
Thưa Ðại Vương, rễ cây của người ấy không sâu đủ một do tuần. Vì vậy người ấy không vui, đến kiếm chuyện sinh sự với tôi, nói rằng tất cả đều là lỗi của tôi.
Xin Ðại Vương xét cho, tôi hoàn toàn không có lỗi.’
Khi ấy nhà vua triệu tập 30 triệu quần thần, phán rằng: ‘Các ông nói đi.’
Quần thần thưa: ‘Tâu Ðại Vương, nói điều gì?’
Vua đáp: ‘Các ông có bao giờ từng nghe có ai trồng cây mà trong một ngày mọc lên đủ cành đủ lá, hoa trái sum suê, nửa sống nửa chín? Các ông nói thử xem có thể có chuyện như vậy được hay không?’
Quần thần đứng dậy, tâu rằng: ‘Tâu Ðại Vương, chuyện này là phép lạ, chúng tôi không thể biết chắc được. Phải hỏi người kia kỹ hơn.’
Nhà vua quay lại hỏi người kia: ‘Lời ngươi nói lúc nãy có thật không?’
Người ấy đáp: ‘Tâu Ðại Vương, toàn là sự thật.’
Vua nói: ‘Ta chưa từng nghe qua chuyện lạ như vậy.
Ngươi nói rằng :’Cây trồng một ngày, đơm hoa kết trái’, thật là chuyện khó tin.’
Người ấy đáp: ‘Nếu Ðại Vương không tin, cứ hãy đến đó đích thân trồng thử.’
“Vua bèn ra lệnh nhốt hai người kia vào ngục, tự mình dẫn 30 triệu quần thần ra mảnh đất nọ, lấy cây trồng thử.
Cây không nảy mầm, không ra lá, chẳng đơm hoa, không kết trái.
Vua nổi giận truyền lịnh: ‘Mang rìu lại đây.’
Quần thần đưa rìu lại, vua hạ lịnh đốn ngã gốc cây sum suê hoa trái người kia trồng.
Thân cây ngã xuống, 12 cây khác mọc lên.
Vua lại bảo chặt. 12 cây ngã xuống, 24 cây khác lại mọc, với đầy đủ gốc rễ hoa trái, chồi xanh mơn mởn, lấp lánh bảy thứ châu ngọc quí giá.
Trên cây xuất hiện 24 con chim mào vàng cánh ngọc, âm thanh trong suốt.
Vua thấy vậy lại càng tức tối, tự tay đưa rìu bổ xuống gốc cây. Rìu phập vào thân cây, nước cam lồ tuôn ra.
Bấy giờ nhà vua cảm thấy bất an, truyền lịnh: ‘Thả hai người kia ra khỏi ngục’, quần thần dạ rang, tức tốc chạy về ngục dẫn hai người đến gặp vua.
Vua bấy giờ lên tiếng hỏi:
‘Ngươi trồng thứ cây gì, mà cứ đốn xuống thì lại mọc lên nhiều gấp bội, thành những 24 cây, trong khi cây của ta chẳng ra mầm trổ lá, chẳng kết trái đơm hoa?’
Người kia thưa rằng: ‘Vì công đức người trồng không giống nhau.’
Quần thần nghe xong, quì cả hai chân, nói với người kia:
‘Ông mới xứng là vua trị nước. Vua trước không xứng đáng.’
Người kia bấy giờ nói:
‘Tôi không muốn làm vua
Cũng không cầu tiền của
Tôi chỉ tin vào Phật
Nguyện thành Lưỡng Túc Tôn
Nguyện đến cõi niết bàn
Nơi Như lai trú ở
Nguyện đem hết Chánh Pháp
Thuyết giảng cho các ông
Cùng chung đến niết bàn’
“Người ấy xếp chân ngồi thế hoa sen, thú nhận rằng:
‘Trong những đời quá khứ
Tôi đã phạm ác nghiệp
Nên kiếp này bị nhốt
Vào tù ngục của vua
Bây giờ ngay tại đây
Phát tâm nguyện bồ đề
Nguyện trả xong nghiệp cũ’
“Lúc ấy 24 con chim mỏ ngọc kim cương xướng lên âm thanh trong vắt.
Lại có 32 ngàn tòa lầu hiện ra, mỗi tòa rộng 24 do tuần, với 25 con chim mỏ vàng mào vàng, mặt vàng, cất tiếng người nói rằng: ‘Ðại Vương chặt cây, gây quả ác.
24 cây, trong số một trăm triệu cây, mọc sừng sững truớc mặt Ðại Vương.
Vì việc làm bất thiện này mà Ðại Vương sẽ gặp quả bất thiện.
Ðại Vương có biết người trồng cây ấy là ai chăng?’
“Vua rằng:
‘Tôi thật không biết
Xin nói cho tôi nghe
Người trồng cây ấy
Ðích thật là ai?’
“Chim đáp:
‘Người ấy sẽ là
Ngọn đèn thế giới
Xuất hiện cõi trần
Làm người dẫn dắt
Toàn thể chúng sinh
Ra khỏi ràng buộc
Sinh tử luân hồi’
“Vua hỏi:
‘Vậy còn người kia
Trồng cây không mọc
Ðã làm những gì?
Trong thời quá khứ?
Xin chim giải thích
Tôi nghe được chăng?
“Chim đáp:
‘Ðề Bà Ðạt Ma
Là tên người ấy
Không chút căn lành
Lấy gì cây mọc?’
“Ngay lúc ấy, 30 triệu quần thần nghe chánh pháp này đồng loạt chứng quả thập địa, được trí huệ trong suốt, còn nhà vua an trụ thập địa rồi thành tựu thiện pháp.”
Bồ tát Dược Vương nghe đức Thế tôn kể xong, hỏi rằng:
“Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà 30 triệu quần thần đạt được trí tuệ trong suốt, an trụ thập địa?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông hãy nghe Như lai giải thích đây. [Vua và quần thần đã được chư Phật Như lai thọ ký từ lâu, đều được thành Phật. Nên biết rằng các cây được trồng ấy đều do thần lực của chư Phật hiển hiện.
Ngày hôm nay Như lai cũng sẽ lại hiện việc như vậy, cùng với việc vua ngày xưa không khác 2]”
Bấy giờ đức Thế tôn mỉm cười, từ miệng phóng ra 84 ngàn tia sáng lớn, mỗi tia sáng đủ cả trăm vạn sắc màu xen lẫn, xanh, vàng, đỏ, trắng, tía, pha lê, bạc, chiếu sáng rực rỡ thế giới vô lượng vô biên, rồi về lại cạnh đức Thế tôn, theo chiều bên phải vòng quanh ba vòng rồi tan biến vào đỉnh đầu của Phật.
Lúc ấy đại bồ tát Dược Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt một vạt áo lên vai, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn mà nói: “Thưa Thế tôn, vì lý do gì Thế tôn mỉm cười?

2 bổ túc với bản dịch của cố thượng tọa Thích Chánh Lạc.
Không phải vô cớ mà bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri lại mỉm cười.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, ông có thấy vô số người từ bốn phương đang về đây tụ họp không?”
Dược Vương đáp: “Thưa không, Ðức Thế tôn, con không thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Vậy ông nhìn lại cho kỹ, nhiều vô cùng tận.”
Bấy giờ đại bồ tát Dược Vương quan sát kỹ lưỡng, thấy phương Ðông có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần.
Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Phương Nam có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần. Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Phương Tây có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần.
Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Phương Bắc có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần.
Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Không gian phía trên có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần.
Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Không gian phía dưới có một gốc đại thụ tỏa rộng đến 7 ngàn do tuần.
Trên đó có 25 ngàn triệu thân người tụ tập, không nói năng, không thưa hỏi, không trò truyện, không ăn, không đứng, không đi, chỉ ngồi chờ im lặng.
Ðại bồ tát Dược Vương mới thưa đức Thế tôn: “Thưa Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, xin cho con hỏi một điều.”
Ðức Thế tôn đáp: “Ông có điều gì thắc mắc cứ hỏi, Như lai sẽ vì ông mà trả lời tất cả.”
Ðại bồ tát Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, vì sao vô số thân người như vậy từ bốn phương kéo đến và ngồi lại đây?
Vì sao họ chẳng trò chuyện, thưa gởi, chẳng đảnh lễ tán dương Như lai, cũng không đi không đứng, mà lại chờ trong im lặng? Thưa Thế tôn, vì nguyên do gì mà có việc như vậy?”

Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông hãy tự mình đến thăm các đấng Như lai trong mười phương thế giới, hỏi xem những thân người này đến từ cõi nào.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, con dùng thần lực nào để đi? Thần lực của Như lai, hay thần lực của chính mình?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông hãy đi với thần lực của mình, rồi về bằng thần lực của Như lai.”
Ðại bồ tát Dược Vương nghe xong, theo hướng bên phải của đức Thế tôn đi quanh ba vòng, rồi thân hình biến mất ngay nơi ấy.
Cách thế giới này hơn 96 ngàn triệu thế giới, có một thế giới tên gọi Nguyệt Ðăng [Chandrapradipa].
Vị Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri của cõi ấy tên là Nguyệt Thượng Cảnh Giới [Chandravati-kshetra]. Như lai Nguyệt Thượng Cảnh Giới đang thuyết Pháp cho 80 ngàn triệu đại bồ tát.
Khi ấy đại bồ tát Dược Vương tới cõi Nguyệt Ðăng, đến bên Phật, mang đỉnh đầu lạy ngang chân đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới, bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, rồi đứng dậy chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói rằng:
“Thưa Thế tôn con từ cõi Phật của đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni Như lai, tại cõi Ta bà, đã vượt 96 ngàn triệu thế giới để đến đây.
Không nơi nào con thấy được nhiều thân người như con đã thấy ở cõi ấy.
Thưa đức Thế tôn, vì nguyên do gì trong Pháp hội của đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni Như lai tại cõi Ta bà lại có nhiều thân người từ mười phương về tụ họp đông đảo như vậy?
Con chưa từng thấy số lượng thân người nhiều như số lượng thân người đang trú ở cõi Ta bà.
Ðức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới đáp: “Dược Vương, ngay chính nơi ấy, họ thường lang thang và ở lại.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, vì sao lại như vậy?”
Ðức Thế tôn đáp: “Vì họ từ cây gỗ vô tri sinh ra.”
Dược Vương nói: “Con chưa từng nghe nói có chúng sinh nào lại từ cây gỗ vô tri sinh ra.”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông chưa từng nghe nói thật sao?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con chưa từng nghe qua, huống chi là thấy.”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông muốn thấy không? Như lai sẽ chỉ cho ông thấy.”
Dược Vương thưa: “Thưa Thế tôn, con rất muốn.”
Bấy giờ Ðức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới Như lai duỗi cánh tay sáng ngời trăm công đức.
Từ cánh tay hiện ra 100 ngàn triệu thân người. Mỗi thân người duỗi ra một trăm cánh tay, rãi các loại hương hoa hương xoa cúng dường Như lai.
Khi ấy đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới Như lai hỏi đại bồ tát Dược Vương:”Ông bây giờ thấy được chưa, Dược Vương? Có thấy thân người đang rãi hương hoa hương xoa cúng dường Như lai?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con có thấy, thưa Như lai, con có thấy.”
Ðức Thế tôn dạy: “Thế đó, thân người vô tri hiện ra. Thế đó, con người vô tri ra đời.”
Trăm cánh tay từ mỗi thân người duỗi ra. Ðại bồ tát Dược Vương nói: “Thưa Thế tôn, vì sao lại như vậy?
Những thân người này chỉ trong khoảnh khắc duỗi ra hàng trăm cánh tay.
Thưa Thế tôn, cúng dường với hàng trăm cánh tay mà vẫn chưa giải thoát, vậy người chỉ có hai tay giải thoát được còn hiếm đến mức nào!”
Ðức Thế tôn đáp: “Ông nói đúng lắm, Dược Vương. Thân người vô tri sinh rồi diệt. Dược Vương, cần phải hiểu xác thân con người là vật vô tri, như mộng như huyễn 3.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, thân người ấy có phải cũng có kẻ ít tuổi, có kẻ nhiều tuổi?”
Ðức Thế tôn đáp: “Ðúng vậy.”
3 bổ tức với bản dịch của cố TT Thích Chánh Lạc

Dược Vương lại hỏi: “Thưa Thế tôn, vậy ai là kẻ ít tuổi? Ai là kẻ nhiều tuổi?”
Ðức Thế tôn đáp: “Những kẻ ông vừa thấy duỗi tay ra đó, là kẻ nhiều tuổi, còn những người do cây sinh ra [ở chỗ đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế giới Ta Bà] là kẻ ít tuổi.”
Dược Vương nói: “Xin Thế tôn cho con được gặp những người ít tuổi.”
Bấy giờ Ðức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới đưa bàn tay phải ra.
Từ mười phương, 100 ngàn triệu thân người tụ họp lại.
Từ không gian phía trên và phía dưới, 50 triệu thân người tụ họp lại. Tất cả đều không quì đảnh lễ đức Thế tôn cũng không thưa gởi, chỉ đứng im lặng.
Khi ấy đại bồ tát Dược Vương nói: “Thưa Thế tôn, vì sao những người này không nói năng mà chỉ đứng im lặng?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông không biết sao? Người vô tri trong cõi thế gian không từng nói năng, cũng không biết thân thể chánh pháp. Vì sao?
Dược Vương, tất cả những người ít tuổi trong Pháp hội này không biết sinh, không hiểu diệt.
Dù có thấy khổ não lớn lao của già, bệnh, sầu muộn, khóc than, yêu phải xa, ghét phải gần, chết và chết không đúng kỳ, họ vẫn không xúc động. Vậy họ lấy gì để hiểu chánh pháp?
Dược Vương, họ là những người cần được giáo hóa luôn luôn.”
Nghe xong đại bồ tát Dược Vương nói: “Thưa Thế tôn, vậy những kẻ ít tuổi không biết chánh pháp ấy, họ đến từ đâu? đi về đâu? Sẽ tái sinh về cõi nào?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông hãy nghe đây. Thân người họ có không phải là sản phẩm của thợ vàng, thợ hàn, thợ mộc, cũng không phải do thợ thủ công nắn đất mà thành.
Thân ấy cũng không vì sợ vua mà hiện ra. Thân ấy do nghiệp mà thành, từ ái dục nam nữ sinh ra.
Kiếp này sang kiếp khác họ dạy cho chúng sinh nhiều tiểu xảo, gặp lắm nỗi đau bén nhọn triền miên, toàn là kết quả của nghiệp bất thiện.
Dược Vương, những kẻ ít tuổi chưa tỉnh thức, lại chịu sự đau đớn lớn lao kia, họ đến tụ họp nơi đây.
Vì lý do ấy họ không nói năng trò chuyện.
Dược Vương, những người ít tuổi này không biết điều lành, không biết sinh, không biết diệt, nên sẽ không đạt được thân người.
Dược Vương, họ được gọi là “người ít tuổi.”
Dược Vương lại hỏi: “Thưa Thế tôn, vậy người ít tuổi sinh ra như thế nào? Chết đi ra sao?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, giống như người cầm củi đưa vào trong lửa, củi sẽ bắt lửa cháy sáng. Thân thể con người cũng tương tự như vậy, phải có cái nhân đầu tiên. Khi sinh ra thì có cảm xúc.”
Dược Vương hỏi: “Ở đây ai là người có sự sinh toàn hảo? Ai là người đã đạt Ðại Niết Bàn?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, đúng như ông hỏi, Phật đà có sự sinh toàn hảo, Như lai đã đạt Ðại Niết Bàn.
Ví như có người bị vua nhốt vào hầm tối trong tòa nhà. Vào hầm rồi nhìn đâu cũng chỉ thấy bóng tối thăm thẳm.
Lại có người khi xưa đã từng chịu nhiều khổ não, nay thấy người này bị đưa vào ngục, nghĩ rằng:
‘Không xong rồi. Ðời sống người này sẽ phí bỏ, cả khổ đau cũng không thể biết được.’
Nghĩ vậy người kia mới đốt một ngọn lửa để an ủi khích lệ người trong hầm tối.
Ngọn lửa tình cờ bốc lớn, lan rộng, tòa nhà bốc cháy, thiêu chết người nhen ngọn lửa.
Nhà vua nghe tin có người chết cháy, trong lòng xốn xang nghĩ rằng:
‘Từ nay ta sẽ thôi không nhốt người vào hầm tối.’
Rồi nói với những người trong hầm: ‘Các người đừng sợ hãi, rồi các người sẽ được bình an.
Từ nay về sau sẽ không còn ai đánh đập nhốt các người vào hầm tối. Ta sẽ không hại mạng sống của các người. Không cần phải sợ hãi nữa.’
Dược Vương, tương tự như vậy, Như lai là người dẹp tan phiền não, chữa lành mọi bịnh khổ, thường giải thoát chúng sinh.
Như lai siêu thoát mọi ô nhiễm tham sân si, xuất hiện trong cõi thế như ngọn đèn soi sáng chúng sinh.
Chúng sinh ít tuổi hay nhiều tuổi, Như lai đều giải thoát cả, ra khỏi cõi địa ngục, ra khỏi thân súc sinh, quỉ đói hay A tu la.”
Khi ấy trên không rãi xuống âm thanh hát lời kệ này:
“Ruộng phước tuyệt hảo
Ruộng phước tối thắng
Ðã khéo bày mở
Hạt giống gieo vào
Không bị mất đi
Ruộng phước Phật đà
Ruộng phước tối thắng
Khai mở chánh pháp
Của đấng Ðại Hùng
Ðạo sư vận dụng
Kho tàng trí tuệ
Ðộ dẫn chúng sinh
Vào cõi Niết Bàn
Xuất hiện cõi thế
An lạc cõi trần
Thanh tịnh cõi Phật
Những người nhiều tuổi
Cùng người ít tuổi
Ðều được cứu thoát
Ra khỏi luân hồi
Phật đóng tất cả
Cửa vào địa ngục
Cửa vào súc sinh
Cửa vào ngạ quỉ
Nhờ đó thế gian
Cùng cõi xuất thế
Ðều được thanh tịnh”
Lúc ấy, đức Như lai Nguyệt Thượng Cảnh Giới mỉm miệng cười, nói rằng :”Lành thay, thấy được bậc tối thắng.
Lành thay, thấy được đấng Phật đà. Lành thay phước điền diệu pháp. Lành thay Tăng già hòa hợp.
Lành thay, Chánh Pháp Ðại Tập Hội được tuyên thuyết, là nơi tận diệt của ác pháp. Ai nghe được pháp này sẽ thành tựu đường tu tối thượng.”
Khi ấy, đại bồ tát Dược Vương chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa rằng:
“Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà đức Thế tôn mỉm cười?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, Thiện nam tử, ông có thấy những người ít tuổi kia không?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con có thấy.”
Ðức Thế tôn nói: ” Dược Vương, ngày hôm nay tất cả những người ấy sẽ thành tựu thập địa bồ tát.”
Khi ấy đại bồ tát Dược Vương bay lên không trung, cao 80 ngàn do tuần, lại có 80 ngàn triệu thiên tử mưa xuống những đóa hoa rực rỡ cúng dường đức Thế tôn.
Thấy đại bồ tát Dược Vương, những người ít tuổi chắp tay đảnh lễ.
Khi ấy đại bồ tát Dược Vương đứng trong không trung, vận dụng âm thanh lớn rót vào ba ngàn đại thiên thế giới.
Chúng sinh trong 32 địa ngục lớn đều nghe, chúng sinh 32 tầng trời đều nghe, ba ngàn đại thiên thế giới chấn động sáu cách.
84 ngàn long vương tận đáy đại dương cũng nghe rung chuyển, 30 ngàn triệu la sát lũ lượt cùng nhau kéo về, 25 ngàn triệu quỉ đói, dạ xoa, la sát từ cõi Adakavati về trước mặt đức Thế tôn Nguyệt Thượng Cảnh Giới, tụ họp đông đảo.
Khi ấy đức Thế tôn nói Pháp cho những người ít tuổi. Các đại bồ tát của 100 ngàn triệu tỉ thế giới mười phương cùng dùng thần lực kéo đến dự hội.
Khi ấy đại bồ tát Dược Vương chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói rằng : “Thưa Thế tôn, rất nhiều đại bồ tát đều đến tụ họp đông đảo, thưa Như lai, các loài trời, thần, rồng, cũng đều đến tụ họp đông đảo.
Lại có rất nhiều dạ xoa, la sát, quỉ đói, đến từ thế giới Adakavati, cùng về tụ họp đông đảo, mong được nghe Pháp.”
Khi ấy đức Thế tôn nói với Bồ tát Dược Vương: ‘Thiện nam tử, ông hãy về lại đây.”
Ðại bồ tát Dược Vương dùng thần lực trở xuống từ tầng không, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn thưa rằng: “Tập hợp chánh pháp’, thưa Thế tôn, con được nghe nói về ‘Tập hợp chánh pháp’. Vậy xin Thế tôn cho con hỏi ‘Tập hợp chánh pháp’ nghĩa là gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Thiện nam tử, khi nào có người tu phạm hạnh thì gọi là ‘Tập hợp chánh pháp.’
Vì gắng tu phạm hạnh, nên tránh điều bất thiện. Ông có thấy, Thiện nam tử, những người ít tuổi kia, việc gì không thích hợp với phạm hạnh, họ đều không làm. Họ sẽ nắm được năng lực Tổng Trì, sẽ thu tóm được vạn pháp.”
Dược Vương lại hỏi: “Thưa Thế tôn, nhờ đâu mà đông đảo chúng sinh về tụ hội nơi đây để nghe nói về ‘tập hợp chánh pháp’?”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, có rất nhiều chúng sinh không biết rằng hễ sinh ra có thân mạng là có khổ, cầu mà không được, tiếc nuối khóc than, thương mà phải xa, ghét lại phải gần, rồi cái chết đến cùng với bao nhiêu khổ đau, cướp đi mạng sống con người.
Dược Vương, tất cả những điều ấy đều gọi là ‘khổ’, nhưng có rất nhiều chúng sinh đối với ý nghĩa khổ đau này lại không nghe, không biết.”
Người ít tuổi trong Pháp hội nghe đức Phật dạy, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, hỏi rằng: “Thưa Thế tôn, phải chăng chúng con rồi sẽ chết?”
Ðức Thế tôn nói: “Ðúng vậy, Thiện nam tử, tất cả chúng sinh có sinh thì có chết.”
Họ lại hỏi: “Thưa Thế tôn, cái chết đến như thế nào?”
Ðức Thế tôn đáp: “Thiện nam tử, ngay lúc chết, khi chỉ còn một thức cuối cùng, có ba luồng khí mang tên gọi ‘khiến thức tận diệt’, ‘khiến thức động chuyển’ và ‘khiến thức tán loạn’ làm cho thần thức cuối cùng bị xáo trộn, chao động và tán loạn.”
Họ lại hỏi: “Thưa Thế tôn, vào lúc mệnh chung, có ba điều khiến thân thể hư hoại, ba điều ấy là gì?”
Ðức Thế tôn nói: “Khiến cho thân thể hư hoại có ba thứ, gọi là ‘cắt’, ‘đâm’ và ‘thương tổn.”
Họ lại hỏi: ‘Thưa Thế tôn, cái gọi là ‘thân thể’, thật ra là gì?”
Ðức Thế tôn nói:”Thân còn được gọi là ‘tia chớp’, là ‘ánh lửa’, là ‘đờm dãi’, là ‘vật hư nát’, là ‘viếng nghĩa trang’, là gánh nặng, người ngu không thể biết rõ.
Sinh là khổ. Vì có sinh nên phải tạo tác, mạng căn liên tục được gìn giữ, nhưng kỳ thật chỉ là do tương ưng với ái.
Những sự như vậy đều là tên gọi của ‘thân’.
Họ lại hỏi: “Thế nào là sống ? Thế nào là chết?”
Ðức Thế tôn đáp: “Này những người sống lâu, ‘Thức’ đoạn diệt, ‘nghiệp’ trường tồn. Thân là tổng hợp của vô số gân mạch, 84 ngàn lỗ chân lông, 12 ngàn chi tiết của thân thể với hơn 360 đốt xương, lại có 84 ngàn loại trùng sống bên trong thân thể.
Cái chết sẽ đến, khi thân người tận diệt thì các loài trùng đều không còn hy vọng gì.
Khi con người chết đi, khí bên trong thân thể xáo trộn, khiến các loài trùng kích động quay lại nhai nuốt lẫn nhau. Vì vậy mà phải chịu khổ não lớn lao.
Trùng này chết rồi trùng kia lại sinh. Tất cả đều bị mũi tên phiền muộn đâm thủng, nhai nuốt lẫn nhau cho đến khi chết hết, chỉ còn lại hai con.
Hai con này lại tranh đấu với nhau cho đến bảy ngày.
Cuối cùng, một con thắng, một con chạy thoát. Này người nhiều tuổi, cái gì gọi là ‘Pháp’? Các ông nghĩ sao?
Cũng giống như các loài trùng kia đấu tranh nhai nuốt lẫn nhau, chúng sinh phàm phu mê muội cũng vậy, luôn tranh chấp, chém giết nhau. Ðến khi chết, có thiện tri thức đến hỏi:
‘Này đạo hữu, có biết sinh lão bịnh tử là khổ nạn?’
Người ấy đáp: ‘Tôi đã thấy và biết như vậy.’
Thiện tri thức lại hỏi: ‘Vậy sao không từng trồng gốc rễ điều lành? Sao không từng cấy trồng thiện căn, tập hợp chánh pháp, đến với hạnh phúc thế gian và xuất thế gian?
Ðạo hữu, cho chúng tôi hỏi thêm lần nữa, sao không tích tụ thiện căn để vượt thoát sinh tử?
Sao không tìm hiểu thật tướng của Tâm? Tại sao không biết nghe tiếng trống đại pháp dóng lên trên toàn cõi thế giới? Ðạo hữu có từng tu hạnh bố thí, cấy trồng gốc rễ điều lành nơi ruộng phước Như lai?
Ðạo hữu có từng mang các món hương hoa, vòng hoa, vòng đèn, ẩm thực cúng dường Như lai?
Có từng chu toàn cho bốn chúng thanh tịnh, Tỷ Kheo, Tỷ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di được đầy đủ để chúng xuất gia dốc lòng tu học Phật Pháp?’
Cứ như vậy họ nói lời lợi ích cho người sắp chết: ‘Này vua, có từng tạo ác nghiệp? Này người, sao chưa chán cõi Diêm phù?’
“Lúc ấy, vị Ðại Pháp Vương nói lời kệ, khích lệ người sắp chết:
‘Gặp Như lai xuất thế
Nghe trống pháp quảng đại
Nhận kho tàng diệu pháp
Mở Niết Bàn an lạc,
Gặp được thiện duyên này
Sao vẫn chưa tinh tấn?
Sao không trồng căn lành
Hướng về cảnh an lạc
Thế gian, xuất thế gian?
Không chán cảnh sinh tử
Sẽ tạo quả không cầu
Là trầm luân địa ngục.’
“Người ấy đáp rằng:
‘Tâm tôi vốn mê muội
Lại không gặp bạn hiền
Nên chứa mầm ô nhiễm
Tâm vướng đầy tham ái
Tạo lắm nghiệp chẳng lành
Giết hại nhiều chúng sinh
Phá chúng Tăng hòa hợp
Dùng tâm lý chấp ngã
Ðập phá tháp cùng chùa
Thường nói lời phỉ báng
Làm phiền lòng mẹ cha
Nay những nghiệp đã tạo
Tôi thấy rõ tất cả
Tôi thấy tôi sinh vào
Cõi địa ngục Hào khiếu
Vào địa ngục Chúng hợp
Chịu đau đớn không cùng
Rồi vào ngục Ðại nhiệt
Lại chìm cõi Vô gián
Gào thét cõi Ðại liên
Sợ hãi cõi Hắc thằng
Hàng trăm lần chưa hết
Chúng sinh cõi địa ngục
Bị lôi xuống không ngừng
Nên cứ hoài sợ hãi
Rơi trăm ngàn do tuần
Sâu thẳm trong nỗi sợ
Như tuột vào lòng phễu
Không tìm được lối ra
Hàng ngàn đao gươm bén
Trong cõi ngục đao binh [Kshura]
Trăm ngàn lần vô số
Rừng gươm và núi đao
Cắt thân hình đứt đoạn
Vì nghiệp cảm mà thành
Lại có cơn bão lớn
Xốc tung thân thể lên
Xốn xang không kể xiết
Chúng sinh nào cũng thấy
Thân tôi đầy đớn đau
Cướp tài sản người khác
Giữ hết làm của mình
Lại chẳng từng cho ai
Giữ con trai con gái
Giữ cha mẹ anh em
Giữ thân nhân bằng hữu
Giữ gia đinh, nô tỳ
Giữ ngựa bò, gia súc
Tôi lạc lối lầm đường
Sa đọa cảnh giàu sang
Mang bạc vàng châu báu
Gấm vóc cùng ngọc ngà
Xây lầu thành nguy nga
Người ra vào tấp nập
Nhạc du dương không dứt
Tham đắm cùng âm thanh.
Thân mình tẩm nước thơm
Chẳng từng nghe thỏa mãn.
Ôi thân thể tham lam
Vì thân mà lầm lạc
Chẳng còn nơi nương tựa
Bây giờ và tương lai
Khi bão lớn nổi lên
Thân xốc tung từng mảnh
Lưỡi quen nếm vị ngọt
Trên đầu quen kết hoa
Mắt mê mờ sắc đẹp
Không thể nương dựa vào
Mắt này đã nhiều lần
Là nhân tạo nghiệp dữ
Cũng như các nghiệp dữ
Vì tai mà sinh ra
Cánh tay đầy ngọc quí
Vòng vàng đầy cổ tay
Nhẫn đeo trên mười ngón
Cổ lấp lánh ngọc trai
Chân cũng đầy trang sức
Toàn thân phủ ngọc ngà
Áo khoác dệt chỉ vàng
Hưởng giàu sang vô hạn
Tâm khoái lạc đam mê
Quen cảm giác êm dịu
Tham đắm cùng lụa là
Thảm ấm với chăn êm
Nuông thân trong xa xỉ
Tắm bằng loại nước quí
Xông ướp đủ loại hương
Trầm hương cùng chiên đàn
Không gian mùi tỏa ngát
Xạ huơng, hương xoa quí
Xoa tẩm cả thân hình
Y phục toàn lụa mịn
Trắng thanh khiết tinh nguyên
Trở xuống từ lưng voi
Lại bước lên lưng ngựa
Tôi thấy tôi tôn quí
Như một vị đại vương
Những con người tầm thường
Gặp tôi là khiếp sợ
Quanh tôi đầy mỹ nữ
Múa hát thật du dương
Súc vật kia vô hại
Tôi săn giết không chừa
Làm đủ điều bất thiện
Không biết chuyện đời sau.
Nhai nuốt thịt chúng sinh
Nghiệp gây nên như vậy
Tự tạo lắm khổ đau
Không biết chết là gì
Quá nuông chìu bản thân
Bây giờ chết đã đến
Chẳng còn ai che chở
‘Này người thân của tôi
Sao nhìn tôi như thế?
Vì sao xé áo y
Khóc than thật ảo não
Bức tóc rồi đấm ngực
Rãi bụi dơ lên đầu?
Tôi sống đời vô ích
Cảnh sống gia đình này
Lẽ ra phải từ bỏ
Sao các người còn vẫn
Gắng mà buộc thêm vào?
Thân này rồi cầm thú
Loài sói, chó, quạ chim
Sẽ tha hồ rỉa rói.
Nuông chìu thân thể này
Thật đã quá uổng công
Rắn diệt tận đeo đuổi
Nên vẫn tái sinh hoài
Muốn thoát nỗi sợ này
Phải tìm cho đúng thuốc
Thầy thế gian cho thuốc
Chẳng thể chữa nọc tham
Ðứng trước thềm sinh tử
Chỉ chánh pháp là cần
Ðừng đưa tôi rượu thịt
Ðừng nuông chìu thân tôi
Thân này rồi hoại diệt
Tốn công thêm làm gì
Tích lũy thêm ác nghiệp
Có giúp được gì đâu
Quá nuông chìu bản thân
Mà thân rồi sẽ diệt
Này con trai con gái
Sao đưa mắt nhìn cha?
Con mong cha hết bịnh
Phỏng được lợi ích gì?
Hãy nghe kỹ lời cha
Ðừng nuông chìu thân xác
Mà hại đến bản thân.
Cha vì lo cho con
Ðã cướp nhiều tiền của
Nay trước thềm sinh tử
Tuyệt vọng ôi vô bờ
Cõi sinh là cõi sợ
Cõi tử là cõi đau
Các pháp ‘thọ’, ‘tưởng’, ‘hành’,
Do pháp ‘xúc’ làm nhân
Cùng với Tham Sân Si
Mang lại quả phiền não
Sinh vào nhà bất thiện
Ràng buộc trong vô minh
Tưởng công đức là bé
Gây hại lớn cho người
Xoay lưng với chánh pháp
Giới hạnh và bố thí
Cha đều không làm được
Lại không hiểu rằng sinh
Chính vì do nghiệp ái
Nọc độc của rắn Tham
Vướng phải mà không biết
Làm sao được giải thoát
Làm sao khỏi lạc đường
Nghĩa giải thoát không hiểu
Làm lắm việc chẳng hay
Chạy theo lòng tham ái
Tâm tán loạn mê mờ
Mang đầy nỗi ràng buộc
Lửa phiền não chói chang
Thân lang thang vô định
Chẳng lúc nào bình an
Cũng chẳng biết tìm đâu
Cho ra chốn an lạc
Chỉ có nơi cửa Phật
Là tìm được hạnh phúc
‘Chánh pháp luân chính là
Liều thuốc công hiệu nhất
Giới hạnh cùng giới pháp
Là tiếng lời Như lai’”
Khi ấy đức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Vương:
“Dược Vương, tương tự như vậy, có lắm chúng sinh đến khi chết không có được chút nhân lành để có chuyển thành quả lành, lại không có chốn nương dựa.”
Bấy giờ đức Thế tôn lại đọc bài kệ này:
“Làm những việc chẳng lành
Ðọa sinh cõi địa ngục
Lửa đỏ là áo mặc
Sắt nung là nước uống
Toàn thân than hồng phủ
Biết bao nỗi hãi hùng
Thân thể cháy thành than
Không phút giây an lạc
Không nghe được chánh pháp
Người phàm phu mê muội
Làm việc trái chánh pháp
Thân tâm do nghiệp cảm
Chẳng được chút gì vui
Người thâm tín chánh pháp
Ðủ giới hạnh, trí tuệ
Thân gần thiện tri thức
Sẽ thành đấng Như lai
Như lai vào cõi thế
Ðể độ cho những ai
Vận dụng hạnh tinh tấn
Biết nghiêm chỉnh tu hành
Như lai vào cõi thế
Với tâm đại từ bi
Thuyết giảng về chánh pháp
Khuyên góp gom thiện nghiệp
“Dược Vương, ông là người
Giới hạnh thật uy nghiêm
Ông nghe điều này rồi
Ðược thành tựu viên mãn
Giải thoát khỏi sinh tử
Thấy được chư Như lai
Vốn là bậc Cứu Ðộ
Với tiếng lời tuyệt hảo
“Như lai chính là cha
Là mẹ của thế giới
Và là Tâm Bồ Ðề
Người tuyên thuyết Pháp này
Là bậc thiện tri thức
Rất khó mà gặp được
Người tiếp thọ Pháp này
Sẽ thành đấng Phật đà
Sẽ thành bậc Như lai
Ai người biết tôn kính
Những người con Như lai
Ðều sẽ được giải thoát
Khi sống trong cõi thế
Ðều sẽ được chở che.”
Khi ấy, đại bồ tát Dược Vương nói với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, vì sao núi này lại chấn động?”
Ðức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Vương: “Dược Vương, ông hãy nhìn cho thật kỹ.”
Ðại bồ tát Dược Vương nhìn quanh, thấy mặt đất bốn phía nẻ ra, từ trong đất trồi lên 20 triệu chúng sinh từ không gian phía dưới, cùng với 20 triệu chúng sinh từ không gian phía trên.
Những người ít tuổi đang ở trong Pháp hội thấy việc như vậy, cất tiếng hỏi đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, những người vừa được sinh ra đây là ai?”
Ðức Thế tôn đáp: “Các ông có thấy đoàn người đông đảo ấy không?”
Họ đáp: “Thưa Thế tôn, có thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Họ là những người vì niềm an lạc hạnh phúc của các ông mà sinh ra.”
Những người ít tuổi lại hỏi: “Vậy họ có sẽ chết?”
Ðức Thế tôn nói: “Họ cũng sẽ chết.”
Khi ấy những người ít tuổi đang có mặt trong đại hội chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói rằng:
“Thưa Thế tôn, chúng con không muốn chịu khổ sinh tử.”
Ðức Thế tôn hỏi: “Các ông muốn đạt được sức mạnh năng lực chăng?”
Họ nói: “Chúng con được tận mắt thấy Như lai. Rồi cầu pháp gì, đều được pháp ấy.
Chúng con được gặp Tăng đoàn, tập hợp những vị đệ tử của Như lai, lại thấy được thần lực vi diệu của các đấng bồ tát.
Thưa Thế tôn, vì vậy chúng con không còn ham khổ sinh tử.”

Bấy giờ, đại bồ tát Dược Vương cùng với 500 vị bồ tát, từ chỗ ngồi đứng dậy, tất cả đều dùng thần lực bay lên tầng không, ngồi kiết già, nhập chánh định.
Từ sắc thân của các ngài hiện thành tướng sư tử, cọp, rắn, voi, cùng rất nhiều biến hóa khác.
Các ngài ngồi kiết già trên đỉnh núi cao 20 do tuần, hóa hiện thân hình thành 10 ngàn triệu mặt trời, mặt trăng và khiến các mặt trời mặt trăng này tỏa ánh sáng lớn xuống toàn thể Pháp hội.
Khi ấy những người ít tuổi nói với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà có luồng ánh sáng lớn, cùng với biết bao nhiêu thần biến như vậy?”
Ðức Thế tôn đáp: “Thiện nam tử, các ông có thấy mặt trời và mặt trăng kia không?”
Họ đáp: “Thưa Thế tôn, thưa Như lai, chúng con có thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Luồng ánh sáng lớn và những thần biến ấy là do Bồ tát Dược Vương dùng thân thể của chính mình hóa hiện cho các ông thấy.
Rồi Bồ Tát sẽ vì hạnh phúc lợi ích của rất nhiều chúng sinh mà từ bi giảng chánh pháp, sẽ vì lợi ích của chúng hội đông đảo, của người và trời.
Ở đây, sau khi thể hiện cho các ông thấy sức mạnh của thân vật lý, Bồ tát Dược Vương sẽ còn thần biến nhiều thần thông khác.”
Họ nghe xong, thưa rằng:”Xin Thế tôn giảng về nguyên nhân của luồng ánh sáng lớn này.”
Ðức Thế tôn nghe xong nói với đại bồ tát Dược Vương rằng: “Dược Vương, ông có thấy ba ngàn đại thiên thế giới chấn động sáu cách?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con có thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, ông có thắc mắc gì cứ hỏi.
Như lai sẽ vì ông mà trả lời tất cả. Dược Vương, Như lai sẽ giải thích mọi hiện tượng trong ba thời quá khứ, hiện tại, và vị lai.”
Dược Vương đáp: “Vậy xin Thế tôn cất tiếng xoá tan nghi hoặc.
Thưa Thế tôn, con thấy quanh Như lai có 84 ngàn thiên tử, 84 ngàn triệu bồ tát, 12 ngàn triệu long vương, 18 ngàn triệu dạ xoa, 25 ngàn triệu quỉ đói và quỉ ăn tinh khí.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, họ đến đây nghe Pháp, không vì lý do gì khác. Dược Vương, ngày hôm nay họ sẽ chiến thắng luân hồi.
Tất cả chúng sinh có mặt nơi đây sẽ được lợi lạc lớn ngay trong ngày hôm nay, an trú Thập địa.
An trú thập địa rồi, sẽ vào cõi niết bàn trong tương lai. Muốn giải thoát già và chết, phải làm thiện nghiệp. Cởi bỏ nút tham ái, sẽ bước vào dòng giống Phật.
Dược Vương nói: “Thưa Thế tôn, vì sao nhiều chúng sinh từ nhiều cõi lại có mặt ở nơi đây, quanh Thế tôn?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông hãy nghe đây.
“Người phàm phu mê muội,
Không biết đâu là nơi
Mình sẽ được giải thoát.
Hôm nay người ít tuổi
Sẽ nắm được Tổng Trì
Thành tựu được thập địa
Làm được việc Phật làm
Chuyển bánh xe chánh pháp
Rãi xuống mưa chánh pháp
Vì vậy mọi chúng sinh
Ở trong Pháp hội này
Ðều hoan hỉ nghe Pháp.
Trời, rồng, và quỉ đói
Cùng giống a tu la
Cũng như loài quỉ dữ
An trụ thập địa rồi
Sẽ vận dụng Pháp Âm
Nói chánh pháp vi diệu.
Sẽ gióng trống đại pháp
Sẽ thổi loa đại pháp.
Còn những người ít tuổi
Sẽ nắm được năng lực
Thành tựu được các Pháp
Ðồng bậc với Như lai.”
Khi ấy 5 ngàn người ít tuổi từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, thưa rằng:
“Làm sao có thể
Không muốn kết thúc
Sinh tử cho được.
Kính thưa Thế tôn,
Thân là gánh nặng,
Toàn sự sợ hãi,
Thật khó kềm chế.
Ðường đi không thấy,
Và cũng không có
Ðường đi nào cả.
Chúng con không gặp
Ðược nơi nương dựa.
Hôm nay đồng tâm
Thỉnh cầu một việc:
Nguyện cho chúng con
Ðược lòng can đảm.
Xin được nghe Pháp.
Chúng con sinh ra
Không nhiều trí tuệ
Không ham khoái lạc
Xin Phật nói Pháp
Giải thoát chúng con
Ra khỏi khổ đau
Bủa vây dày kín.
Nguyện sinh ở đâu
Cũng đều thấy Phật.”
Bấy giờ đại bồ tát Dược Vương, đến chỗ những người ít tuổi đang đứng, nói rằng:
“Các ông hãy ăn
Ðồ ăn nêm với
Nhiều loại gia vị.
Bao giờ thấy tâm
Không còn khiếp sợ,
Bấy giờ các ông
Chuẩn bị nghe Pháp”
Họ hỏi:
“Thưa, ngài là ai?
Chúng tôi không biết
Quí danh là gì?
“Chúng tôi thấy ngài
Sắc tướng tuyệt hảo,
Gương mặt uy nghi
Chứa đầy định lực.
Như người thoát khỏi
Thế giới kinh hoàng
Của loài quỉ đói,
Ðịa ngục, súc sinh,
Mọi điều bất thiện
Ðều tuyệt không còn.
“Chúng tôi thấy ngài
Tay cầm bình bát
Bằng bảy ngọc quí
Y phục bằng vàng
Toàn thân tỏa sáng.
“Những lời thanh tịnh
Ngài vừa nói ra,
Chúng tôi không biết
Trả lời thế nào.
“Thức ăn hảo hạng,
Cùng các thức uống,
Ðối với chúng tôi
Thật không cần thiết.
Thức ăn sinh ra
Biết bao tạp uế,
Thức uống cũng vậy.
Máu đến từ nước,
Thịt đến từ máu,
Thức ăn thức uống,
Chúng tôi không cần.
Lụa, len, vải vóc,
Chúng tôi không cần.

Vòng vàng chuỗi ngọc,
Nhẫn đeo trên tay,
Chúng tôi không cần.
Toàn là vô thường,
Phải chịu sinh diệt.
Chúng tôi là những
Con người bất hạnh,
Không muốn để mình
Lún sâu sinh tử.
“Nếu muốn đến với
Niềm vui chư thiên,
Cúng dường chánh pháp,
Cần nhất phải gặp
Ðược thiện tri thức.
Ngay cả những bậc
Vua chuyển pháp luân
Cũng chẳng cần gặp.
Vua chuyển pháp luân
Khi lìa dục giới
Cũng vẫn phải chết,
Con trai con gái
Ðều không thể theo,
Bảy loại ngọc quí
Chắc chắn không theo.
Trăm vạn quần thần
Ðều không thể theo,
Cũng không cách gì
Ðuổi theo sau đó.
Vua chuyển pháp luân

Sống đời vô thường
Quẩn quanh vô nghĩa.
Nếu làm điều ác,
Ðịa ngục Hào khiếu
Cũng sẽ đọa vào.
Dù trong cõi thế
Vua chuyển pháp luân
Nhờ có trong tay
Bảy loại ngọc quí
Nên giữ quyền năng
Bốn đại bộ châu.
Nhưng khi đọa vào
Ðịa ngục Hào khiếu
Quyền năng vĩ đại
Biến cả đi đâu?
Không còn đất đứng,
Người đã chết rồi,
Không thể hóa hiện
Thần thông quyền biến.
“Thưa ngài, xin hãy
Nghe lời chúng tôi.
Hãy lên đến nơi
Như lai trú ở.
Như lai cũng như
Là bậc cha mẹ.
Hãy cầu để gặp
Cho được Như lai.
Chúng ta không có

Cha mẹ anh em,
Như lai là người
Ðộ cả thế giới.
Là cha mẹ của
Tất cả chúng sinh.
Là chính bản thân
Mặt trăng mặt trời.
Ðã đạt vô sinh
Cứu độ tất cả
Ra khỏi luân hồi
Ðến nơi an lạc.
Biển dục lớn lao
Thật đáng kinh hãi
Như lai là bè
Chở chúng sinh qua
Ðến bờ bên kia
Không còn trở lại.
Như lai nói Pháp
Viên mãn trong sáng
Chỉ con đường đến
Vô thượng bồ đề.

“Thức ăn không cần
Ðến cả vương quốc
Cũng đều không cần
Chúng tôi không cầu
Dù cõi chư thiên
Hay cõi địa ngục.
“Thân người là quí

Chính ngay thân ấy
Có thể xuất hiện
Một đấng Như lai.
“Ðời sống ngắn ngủi.
Lắm kẻ quẩn quanh
Vận dụng tâm mình
Làm điều bất thiện.
Không biết nỗi chết
Ðắm dục thế gian
Buộc trong sinh tử
Không từng sợ hãi
Không chút trí tuệ
Tâm trí xáo động
Ngắn ngủi không bền
Không biết chánh pháp
Không làm việc thiện
Không biết chánh định
Không thấy tái sinh
Chính là khổ não
Trôi lăn trong cõi
Tái sinh vô tận
Chịu khổ triền miên.
Vì trong quá khứ
Ðã từng đánh đập
Bắt bớ người khác
Cho nên tạo nghiệp
Bị trói bị giết
Hy vọng lụi tàn
Gánh nhiều hoang man
Ðớn đau khổ não.
Ðến giờ phút chết
Than vãn đủ điều,
‘Ai sẽ là người
Che chở cho tôi?
Tôi tặng tất cả
Vàng bạc châu báu,
Sẽ làm nô lệ,
Làm giúp mọi điều.
Tôi không còn muốn
Khoái lạc thế gian,
Tiền bạc của cải
Tôi cũng không cần.
Không muốn tấm thân
Chứa đầy ác nghiệp.’

Thưa bậc tiền bối,
Tương tự như vậy,
Thức ăn chúng tôi
Cũng không thấy cần.
Vua chúa hưởng toàn
Cao lương hảo hạng,
Rồi vẫn phải chết.

Vua ăn thức ăn,
Mang chất cứng lỏng
Vào trong thân mình
Vốn toàn rỗng không
Không là gì cả.
Tham đắm mùi vị,
Làm việc bất thiện.
Vì sao phải tham
Vào thứ mùi vị
Toàn tướng vô thường
Rỗng không vô nghĩa?
Chúng tôi không ham.
Thức ăn thật là
Ðiều không cần thiết.
Ăn vào có giúp
Giải thoát được không?
Tương tự như vậy,
Ðời sống nơi này
Cũng không cần thiết.
Chúng tôi cầu thoát
Ràng buộc thế gian
Chúng tôi cầu thoát
Khỏi lòng tham ái
Cởi thoát dây sắc,
Cầu qui y Phật,
Vị đại thánh hiền,
Vị đại cứu độ
Thấy suốt khổ não
Tất cả chúng sinh.
“Xin bậc tiền bối
Hãy vì chúng tôi
Mà đến bên Phật
Cúi đầu đảnh lễ.
“Chúng tôi không biết

Quí danh của ngài
Xin ngài cho biết
Tên ngài là chi?”
Bấy giờ Bồ tát Dược Vương đáp:
“Các ông cùng mọi người
Ðều hỏi danh tánh tôi
Quanh Như lai có cả
Ngàn triệu người ít tuổi”
Họ đáp:
“Ngài là đệ tử Phật.
Quí danh hẳn thâm thúy
Chắc chắn rất uy nghi
Tất cả mọi chúng sinh
Ðều mong nghe danh tánh.”
Dược Vương đáp:
“Tên tôi là ‘Dược Vương.’
Là thuốc của chúng sinh,
Tôi bây giờ sẽ nói
Về loại thuốc quí nhất
Trong tất cả các thuốc.
Chúng sinh gặp bịnh khổ
Nhờ vào liều thuốc này
Chữa được mọi chứng bịnh
Tham dục là trọng bịnh
Hủy hoại toàn thế giới.
Vọng tâm là trọng bịnh
Khiến cho người mê muội
Phải lỡ bước lầm đường.
Họ nói:
Khiến chúng sinh đọa xuống
Cõi địa ngục, súc sinh.
Sân si là trọng bịnh,
Thuốc này đều chữa được.”
“Nghe được Pháp lành này
Chúng tôi sẽ giải thoát
Khỏi khổ não, vô minh
Khổ não thoát được rồi
Mọi tâm lý bất thiện
Ðều từ bỏ được hết.
Nhờ được nghe chánh pháp
Việc bất thiện bỏ rồi
Chừng đó mọi sợ hãi
Chúng tôi đều bỏ được
Thuốc này là chúa tể
Của tất cả các thuốc
Sẽ chữa lành mọi bịnh
Xoá hết mọi khổ đau
Cho chúng tôi mau chóng
Ðược nhìn thấy Phật đà.
“Thưa ngài, xin hãy mau
Ðến bên cạnh Như lai,
Ðảnh lễ và qui thuận
Chuyển lời của chúng tôi
Ðến với bậc cứu độ
Xóa tan mọi bịnh khổ.
Thân chúng tôi bỏng cháy,
Thiêu đốt không hề ngưng.
Xin đức Phật từ bi,
Dập lửa bất trị này.
Thân vốn là gánh nặng,
Khó bỏ và khó kham,
Mang đến đầy khổ não.
Chúng sinh cứ không ngừng,
Bị gánh nặng sân si,
Cùng gánh nặng phiền não
Phá hoại cuốn phăng đi.
Cứ trôi lăn như vậy,
Không biết đường tháo gỡ,
Không biết lối giải thoát,
Cũng không thấy được đâu
Là con đường giải thoát.
Vậy mà đến khi chết
Vẫn chưa từng biết sợ.
Chúng tôi không từng nghĩ
Cõi chết là cõi vui.
Vọng tưởng chẳng mất đi,
Chúng sinh nhiều lần chết
Mà vẫn cứ mãi quên.
Chúng sinh không nghĩ xa,
Không hiểu rằng bịnh khổ
Sẽ đeo đuổi theo hoài
Vì lòng tham quấy động.
Ăn là khiến thân mòn
Mà vẫn không từng biết,
Kiệt sức vì phiền não
Mà vẫn không từng hay.
Từ tham mà kéo theo
Biết bao phiền não khác.
Có si, rồi có thức,

Có tưởng rồi có thọ,
Người không biết Pháp-Thức
Chịu sợ hãi lớn lao,
Trôi lăn trong tham dục,
Thân gánh nặng trĩu đầy.
Sinh ra trong cõi này,
Thật không chút ý nghĩa.
Thân này được tưng tiu,
Tắm rửa và xoa nắn,
Khoác y áo thanh lịch,
Rồi sẽ được những gì?
Lại đam mê vị ngọt,
Tai chỉ nghe tiếng hay
Của năm loại nhạc cụ,
Mắt chỉ nhìn tướng đẹp
Của châu báu ngọc ngà,
Lưỡi chỉ nếm vị ngọt,
Thân chỉ chạm vật êm,
Thịt da cùng thân thể
Ðều trau chuốc giữ gìn.
Thân này vốn vô nghĩa,
Chỉ ham khoái lạc thôi,
Nuông chìu cả đôi chân,
Quần êm cùng giày đẹp.
Ðứng trước thềm sinh tử,
Trang sức cùng y phục
Chẳng giúp được thân này.
Thân này, không thể giúp,
Trang sức để làm chi?
Lấy thân, gọi là ‘người’,
Biết hô hấp, biết nghe,
Biết tư duy suy nghĩ,
Thân biết được lắm điều.
Trong những thời quá khứ
Ðã từng có ngựa, voi,
Cứ lang thang đùa giỡn
Chẳng chăm lo tu hành,
Mải mê việc bất thiện,
Không biết đến đời sau,
Chỉ rong chơi vui đùa,
Trôi lăn trong sinh tử.
Cái chết đến gần kề,
Thêm một lần khổ não.
Tiếng khóc than vây kín.
Mẹ chết rồi đến cha,
Rồi thân nhân họ hàng,
Con chết, vợ cũng chết,
Ngũ uẩn toàn là không,
Chỉ có tâm mê đắm,
Tự ràng buộc lấy mình,
Ðể tham dục nung nấu,
Mất hết cả tự tin.
Pháp Ðịnh vốn khó thấy,
Chết không có gì vui,
Tâm mê mờ tham lam,
Không từng biết san sẻ.
Trong các loại tà ma,
Lòng Tham nguy hiểm nhất.
Chúng sinh khi sinh ra,
Tâm vốn dĩ mê mờ,
Cả thế gian mê muội,
Tuy nghe được âm thanh,
Nhưng không thấy chân tướng
Thanh tịnh của các Pháp.
Thân chẳng từng mong cầu
Kiếm đường tu giải thoát.
Vì tất cả chúng sinh
Trầm luân trong cõi thế,
Xin Phật dạy chánh pháp.
Phật là mẹ, là cha,
Phật là người dẫn đường,
Tạo nhân cho mưa rơi
Ðầy những loại ngọc quí
Trên toàn cõi Diêm phù.
Kẻ phàm phu không biết,
Nhiếp thọ Pháp là gì.
Phải phát tâm bồ đề
Thì nhiếp thọ chánh pháp.
Tất cả mọi cảnh sống
Sinh ra từ nhân duyên,
Thực chất đều là Không.
Cũng tương tự như vậy,
Cảnh khoái lạc sang giàu
Thực chất cũng là Không.
Khi thấy được chân tướng,
Lòng tham sẽ tiêu tan.
Kính thưa đức Dược Vương,
Hãy nghe chúng tôi nói.
Vì tất cả bồ tát,
Chuyển lời dùm chúng tôi.
Nhớ khổ nạn luân hồi,
Bồ tát không mỏi mệt,
Tâm tinh tấn dũng mãnh,
Giới hạnh thật nghiêm trang,
Tích lũy mọi đức tánh.
Xin ngài đi đến nơi
Trú ở của Ðạo sư,
Là bậc Trí viên mãn
Hàng phục mọi ma quân
Không từng thấy mệt mỏi.
Thỉnh cầu dùm chúng tôi,
Rằng ‘thưa đức Thế tôn,
Thế tôn đã chiến thắng
Tất cả mọi ma vương
Làm tiêu tan ma lực.
Ðể nâng đỡ chúng sinh,
Nguyện những ai có chí
Trở thành bậc Phật đà
Ðược trú trong chánh pháp.
‘ Chúng tôi không cầu Pháp
Cho lợi ích riêng mình.
Chúng tôi xin tiền bối
Hãy đi cho thật nhanh.
Chúng tôi chưa từng thấy
32 tướng Như lai,
Nên vẫn chưa qua được
Ðến bến bờ bên kia.
Chúng tôi xin kính cẩn,
Cúi đầu đảnh lễ ngài.”
Dược Vương nói:
“Các ông hãy nhìn
Lên phía trên cao
Xem thử có gì
Ðang ở trên ấy?”
Họ nhìn lên trên và thấy tất cả 3,500 ngôi đình lộng lẫy, bên trong là những tòa sen, trang hoàng đủ bảy loại ngọc quí, vèm treo lưới ngọc.
Hoa rũ chính giữa, hương thơm thanh khiết thoảng ngát không gian.
Những người ít tuổi hỏi, “Vì sao lại thấy những ngôi đình lộng lẫy như vậy, trông như nụ phấn hoa sen?”
Dược Vương đáp:
“Tòa sen này để
Ðưa các ông đến
Diện kiến Phật đà
Ðưa các ông đến
Cảnh giới Như lai
Phật là vị thầy
Siêu việt thế giới
Phật là ánh sáng
Họ nói:
Của cả thế gian”
“Chúng tôi không biết cách đi
Chúng tôi không thấy Như lai
Chúng tôi không biết lối đi.
Ở đâu có thể
Ðảnh lễ Phật đà?”
Họ nói:
Ánh Sáng Thế Giới.”
“Chúng con nguyện thấy
Bậc đại cứu độ
Chúng con nguyện được
Toàn hảo như Phật
Chúng con chúng sinh
Dược Vương nói:
“Như vòm trời cao
Không thể với tới
Chẳng ai có thể
Ðảnh lễ Phật đà
Là người ban cho
Sự không sinh tử
“Như núi Tu Di
Là cảnh giới thật
Phật ở chốn Phật
Cao như Tu Di
Sâu như biển cả
Bồ tát nhiều như
Tất cả bụi mỏng
Của cả ba ngàn
Ðại thiên thế giới
Ðến từ 10 phương
Cũng vẫn không biết
Như lai đang hiện
Ở nơi chốn nào
Ở đâu cúng dường
Nguyện đảnh lễ Thầy
Thu nhặt thiện quả.”
Dược Vương đáp:
“Ðạo Sư là người
Dẫn dắt chúng sinh
Ra khỏi luân hồi
Qua từng giai đoạn.
Ðạo sư là người
Nâng đỡ chúng sinh,
Không ham hương hoa,
Vòng hoa, hương xoa.
“Ðến với Như lai,
Là bậc chiến thắng
Toàn thể tâm thức.
Ngay cả ma vương
Khó trị bậc nhất
Cũng không dám phiền.
Rồi chúng sinh sẽ
Sớm đạt Tổng trì
Không bị sức mạnh
Cái chết thao túng.
Tâm tin tưởng trong sáng
Chí thành hướng về Phật
Tâm ấy chắc chắn sẽ
Ðược diện kiến Như lai.”
Bấy giờ đức Thế tôn, Như lai, mỉm cười ngọt ngào như tiếng chim Ca Lăng Tần Già.
Bồ tát Dược Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính hướng về đức Thế tôn, nói rằng:
“Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà Thế tôn mỉm cười, khiến cho 84 ngàn ánh sáng từ miệng Thế tôn phóng ra?”
Ba ngàn đại thiên thế giới đầy cả ánh sáng, 32 đại địa ngục đầy cả ánh sáng, và đến cả 32 tầng trời của chư thiên cũng rực ánh sáng.
Những tia sáng đủ màu, xanh, vàng, đỏ, trắng, cam, pha lê, bạc v.v. phóng ra từ miệng đấng Thế tôn, làm sáng ngời hỉ lạc lòng chúng sinh của cả ba ngàn đại thiên thế giới, rồi quay về, theo hướng bên phải của đức Thế tôn bay quanh bảy vòng, biến mất trên đỉnh của đức Thế tôn.”
Rồi đại bồ tát Dược Vương lại hỏi: “Con có điều chưa hiểu, xin Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri cho con được hỏi.”
Ðức Thế tôn nói với đại bồ tát Dược Vương: “Dược Vương, ông cứ tùy tiện hỏi, Như lai sẽ vì ông mà trả lời.”
Dược Vương hỏi: “Thưa Thế tôn, hôm nay có 30 ngàn lần triệu người ít tuổi hiện ra. Họ hiểu được nghĩa lý thâm thúy vi diệu của lời Như lai giảng và nói với người nhiều tuổi như sau: ‘Này người nhiều tuổi, các ông không biết các pháp. Các ông cho rằng không có nhân quả, mê đắm trong khổ não.
Vì các ông không tin [tâm thức] có những [tầng] vi tế, nên lạm dụng làm đủ điều tác hại.
‘ Thưa Thế tôn, vì sao lời họ nhẹ nhàng dễ nghe?”
Ðức Thế tôn nói: ‘Dược Vương, ông không biết vì sao họ nói lời như vậy?
Ðó là họ nói lời nhẹ nhàng dễ nghe với Như lai. Dược Vương, nhờ nghe Pháp, họ sẽ nhớ ý nghĩa của tất cả các Pháp, sẽ có được mọi đức tính.
Tất cả sẽ chứng đắc Tổng trì. Sau này, họ sẽ được đặt vào địa vị Thập địa.
Ngày hôm nay, họ sẽ gióng trống đại Pháp, sẽ nhiếp thọ được toàn bộ các pháp. Dược Vương, ông có thấy những ngôi đình kia không?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con có thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, hôm nay người ít tuổi sẽ bước vào những ngôi đình đó, sẽ có được trí tuệ trong sáng về các pháp. Ngay chính hôm nay họ sẽ thành tựu viên mãn mọi thiện pháp.
Hôm nay, họ sẽ đánh trống đại pháp. Hôm nay, cõi chư thiên sẽ có được trí tuệ trong sáng về chánh pháp.
Chúng sinh cõi địa ngục và nhiều chốn tối tăm khi nghe được biểu hiện của trí tuệ toàn hảo Như lai, sẽ phá tan luân hồi, thành bậc tối thắng. Ðến khi 90 ngàn triệu chúng sinh nhiều tuổi sẽ đắc quả Tu đà hoàn.
Tất cả đều nhiếp thọ chánh pháp. Dược Vương, tất cả đều sẽ từ bỏ khổ não, đều thấy được Như lai.
Tất cả cũng đều thành tựu âm thanh trống đại pháp. Dược Vương, ông hãy nhìn ra bốn hướng.”
Ðại bồ tát Dược Vương quan sát bốn hướng, thấy phương Ðông chư bồ tát nhiều như cát trong 50 triệu sông Hằng kéo đến.
Phương Nam, bồ tát nhiều như cát trong 60 triệu sông Hằng đều đến;
Phương Tây, bồ tát nhiều như cát trong 70 triệu sông Hằng đều đến;
Phương Bắc, bồ tát nhiều như cát trong 80 triệu sông Hằng đều đến;
Không gian phía trên bồ tát nhiều như cát trong 90 triệu sông Hằng đều đến;
Không gian phía dưới bồ tát nhiều như cát trong 100 triệu con sông Hằng đều đến.
Họ đến trước mặt đức Thế tôn, ngồi ở hai bên.
Khi ấy, đại bồ tát Dược Vương nói với đức Thế tôn: “Thưa Thế tôn, những sắc tướng đen và đỏ hiện ra trên vòm trời kia là gì?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, ông không biết những sắc đen và đỏ kia là gì? Như lai biết, Như lai sẽ nói cho ông nghe. Dược Vương, đó là ma vương. Ông có muốn thấy không?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con muốn thấy.”
Ðức Thế tôn nói: “Dược Vương, cũng tương tự như vậy, bồ tát nhiều như cát của 100 triệu sông Hằng đã đến.”
Dược Vương nói:”Thưa Thế tôn, vì nhân gì, vì duyên gì mà các vị bồ tát ấy đến đây?”
Ðức Thế tôn đáp: “Dược Vương, họ vì những người ít tuổi mà đến đây. Tất cả những người ít tuổi sẽ được pháp Ðịnh.
Dược Vương, ông có thấy rất nhiều chúng hội vận dụng biết bao nhiêu thần lực vĩ đại để đến đây?”
Dược Vương đáp: “Thưa Thế tôn, con thấy bồ tát nhiều như cát trong 100 triệu sông Hằng, và bồ tát nhiều như cát trong 100 ngàn tỉ triệu sông Hằng được đặt vào vô số thần lực, với rất nhiều hình, sắc, tướng.
Con thấy vô số bồ tát ấy được đặt vào Thánh vị, các vị bồ tát ấy cùng tùy thuộc đều được an trụ trong chánh pháp.”
Khi đức Thế tôn nói như vậy, đại bồ tát Phổ Dũng, đại bồ tát Dược Vương, những người nhiều tuổi và ít tuổi, cùng tất cả những chúng sinh khác như trời, người, A tu la, Càn Thát Bà.
Tất cả đều hoan hỉ, tán dương Pháp Phật vừa thuyết.
[Kinh Chánh Pháp Ðại Tập Hội kết thúc ở đây.]

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Back To Top