TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA

Mục Lục

Click để trở về mục lục

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 1

Người hành khất vĩ đại, Tế Điên hoà thượng hay

Kim Cang Thủ Đại Bồ Tát hoá thân (Tôn Giả Kusum Lingpa)

Cái đạp của voi chúa không phải là điều mà con lừa có thể kham. Đó chính là cánh cửa dẫn vào phương tiện của trí tuệ Bồ Tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghị”.

(Duy Ma Cật Kinh, chương 6, ph ẩm Bất khả tư nghì, Đường Huyền Trang dịch, bản Việt Ngữ của Tuệ Sỹ).

Ung dung tự tại giữa ta bà với trí huệ vượt không gian và vượt cả thời gian; hiện thân hùng tráng với cái đạp của trí huệ sấm sét của voi chúa vượt mọi quy ước, phá vỡ vô minh, tà kiến; tác phong phi phàm của hàng Bồ Tát đã trụ giải thoát đó hiển lộ uy nghi rạng rỡ qua tôn giả Kusum Lingpa, hoá thân của Kim Cang Thủ Bồ Tát.

Người ta khó có thể hình dung hoặc nghĩ rằng vị Hoá Thân Đại Bồ Tát, đương thời Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương, hậu thân của một trong 10 đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, lại không phải là nhân vật với hình tướng thanh lịch, nói năng thanh nhã hay êm đềm thiền tịnh như danh xưng của Ngài là Đại Lão Thiền Sư của dòng thiền Đại Viên Mãn. Chân bước khập khễnh, thỉnh thoảng lại dừng bước để đùa nghịch như trẻ thơ cùng hàng tông đồ đang trân trọng nghinh đón, tay vung vẩy điệu múa Dakini, thân rạng rỡ dưới bộ áo hoa phụ nữ rực tươi màu sắc; thỉnh thoảng Ngài lại dừng bước để trêu ghẹo các môn đồ, Phật tử đang trân trọng, trang nghiêm nghinh đón!

Thật là khó hiểu và lạ thường! Nhưng tất cả những điều này không che được oai lực vô hình, sống động và bao la mà tất cả những người chung quanh Ngài đều cảm nhận và quy phục. Sức thu hút và oai lực của Ngài mãnh liệt đến nỗi chỉ cần nhắc tới, nghĩ đến Ngài nhiều người đã cảm thấy được gia hộ và thấm đẫm an lạc, hạnh phúc. Khi máy bay của Ngài chỉ cần đến gần, chưa cần đáp xuống; các môn đồ đang chờ đón trong phi trường đã tự nhiên cùng rộn rã, xôn xao và hiểu rằng Ngài đã tới. Lòng kính trọng, yêu mến và sự tận tụy của môn đồ khắp năm châu với Ngài rất sâu đậm. Chuyện có người lái xe hơn ba ngày chỉ để đến đảnh lễ Thầy mình và được Ngài vỗ đầu gia trì trong 5 phút rồi lại ra đi, hay kẻ bay từ nước khác chỉ được ở cạnh gần 1 tiếng hầu có thể nghinh đón thầy mình tại phi trường là những chuyện luôn xảy ra một cách rất bình thường. Các môn đồ đều thân thương nhắc đến Ngài bằng tiếng gọi gần gũi Lama Sang (Bậc Thầy hay Đức Phật Đạo Sư – Lama là Đạo Sư, Sang viết tắt từ Sangye – Phật Sống). Kẻ viết bài này là một môn đồ tầm thường, sơ học, từ đây về sau xin được phép nhắc tới Ngài bằng danh xưng tôn quý Lama Sang.


Tiên Tri Về Sự Ra Đời Của Ngài

Sự nghiệp hoằng pháp của Lama Sang đã ghi dày bao trang sử và văn chương Phật giáo mà chúng ta có thể trở về nguồn từ tiền thân của Ngài là một đại tông đồ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Sakyamuni, Tôn giả Ca Chiên Diên, người được chính Đức Phật ban cho danh hiệu Bậc Nghị Luận Đệ Nhất; sang đến Driwulpa một trong 84 Đại Thành Tựu Giả Phật Giáo Ấn Độ, hay Lhalung Palgi, Palgyi Senge xứ Lang thuộc về 25 Đại Kim Cang hành giả môn đồ thân cận của Tôn Sư Liên Hoa Sanh, người được xem là vị Phật thứ hai ở Tây Tạng. Chuỗi hoá thân thanh tịnh này đã trải qua bao nhiêu kiếp mà trong từng kiếp một Ngài đều hiện thân bồ tát để cứu độ chúng sinh qua các phương tiện phi thường, vượt ngoài quy ước, hiểu biết tầm thường của trí tuệ phàm nhân.

Cuộc đời của Ngài đã được huyền ký và lập đi, lập lại bởi chư Tổ và các Hiền Thánh Tây Tạng khác nhau qua hàng trăm năm như Tổ Do Drupchen Đệ Nhất, Thánh Sư Jigme Trinley Oser, Terton Nyima Drakpa, Tổ Dzogchen Mingyur Namkhai Dorje. Những lời tiên tri này đã được ghi lại bằng văn bản và đã được xuất bản trong nhiều thư liệu khác nhau trong các thế kỷ qua và đặc biệt gần đây đang được phát hành rộng rãi vì những tiên tri này đã nhấn mạnh đến những liên hệ giữa các hành năng, sinh hoạt giác ngộ của Ngài cùng tiên tri về vận mạng thế giới của kỷ nguyên này.

Mọi lời tiên tri đều đã nói y hệt nhau về cuộc đời của Đại Sư trong kiếp này từ thân thế, năm sinh, nơi sinh, tên gọi, cuộc đời, tu tập, chứng đắc, hoạt động và những hành năng giác ngộ của Ngài:

Một hoá thân của Kim Cang Thủ Bồ Tát sẽ ra đời vào năm Mộc Tuất (nguyên bản: year of wooden dog) trong vùng núi Achak Drayu nơi phương Bắc với tên Od hay Ode (viết tắt của Odyana, vùng đất của Đức Liên Hoa Sanh) hoặc còn có tên là Padma Tumdrak Dorje (Hoa Sen Kim Cang Phẫn Nộ). Sanh trong dòng tộc các hành giả nắm giữ những Mật điển của giáo pháp Kim Cang Thừa, Ngài sẽ lớn lên như một đoá hoa nở bừng, và sẽ tung hoành như một cơn bão cuốn. Để truyền bá giáo pháp tối mật của Kim Cang Thừa, Ngài sẽ thiết lập một tu viện trong vùng thung lũng sông Mã với những hàng đệ tử dũng mãnh đông đảo trong giới cư sĩ và xuất gia, bảo đảm được giáo pháp của Như Lai sẽ phát triển đến cùng cực. Những kẻ có duyên với Ngài, sẽ được Ngài đưa về Tịnh Độ Cực Lạc. Qua nhiều đời hoá thân trên trái đất là những vị Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương (Treasure Revealer, Terton hay Lingpa); Ngài sẽ khám phá trên một ngàn Pháp Bảo trong những kho tàng được ẩn dấu từ ngàn năm trước chỉ dành để khai mở vào đúng thời điểm đã định”.

Lời tiên tri được để lại của Thánh Tổ lừng lẫy Mingyur Namkhai Dorje, Hóa Thân Dzogchen Rinpoche Đệ Tứ


Thân Thế Và Trưởng Thành Trên Con Đường Của Định Mệnh Siêu Phàm

Dấu ấn của bậc trí huệ siêu việt cùng hành trang năng lực bao la được chuyển tiếp qua một chuỗi bao tiền thân vĩ đại đã hiển hiện rõ ràng trong đời này của Ngài. Từ thời Tôn Giả Ca Chiên Diên, một trong 10 Đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, người được Đức Phật ban cho danh hiệu là Bậc Đại Trí Luận và thọ ký cho Ngài trong tiền kiếp sẽ đắc Phật quả với Hồng Danh là Diêm-Phù-Na-Đề Kim Quang Như Lai; tiếp đó là bao tiền thân của các bậc trí huệ bậc nhất như Lhopon Powo, Đại Dịch Giả và Học giả Phật giáo Ấn Độ, Palgyi Senge xứ Lang, một trong 8 môn đồ tâm yếu của Đức Liên Hoa Sanh, người đã chứng đắc Như Lai Tạng trong thời ấy với trí nhớ phi phàm, Đại Thành Tựu giả Ấn Độ Driwulpa, Tôn giả Lhalung Palgi một trong 25 tông đồ mật thiết của Đức Liên Hoa Sanh (Padmasambava), người có công diệt kẻ hủy Pháp là vua Langdharma để mở đường cho việc khôi phục và phát huy Phật giáo ở Tây Tạng. Cho đến kiếp gần nhất Ngài là một vị Yogi vĩ đại với Mật pháp thượng thừa của Đại Viên Mãn – phép tu chứng trong một đời.

Từ thời thơ ấu, khi Ngài mới chỉ là một cậu bé nghịch ngợm, nhiều vị tu sĩ đương thời tuy nổi tiếng nhưng chỉ có tiếng tăm về bề ngoài mà không có năng lực hoặc không có tâm Bồ đề chân thật vì chúng sanh đã nhiều lần khốn đốn vì cậu bé này đã luôn tìm cách lật mặt nạ của họ qua nhiều hình thức.

Thủa nhỏ Ngài từng tu hạnh Khất sĩ và nhập thất nhiều năm. Ngài đã trải qua một quá trình huân tập diệu vợi. Ngài đã theo học hơn một trăm danh sư, thánh tăng Phật giáo; trong đó đáng nhớ nhất là Đạo sư lừng lẫy Akong Khenpo, Khai Mật Tạng Trì Minh Vương Nyala Changchub Dorje, Khenchen Lobsang Namtak người đã truyền dạy Ngài pháp thiền Đại Viên Mãn Dzogchen, hai hoá thân của Tổ Do Drupchen Rinpoche thứ tư, vị sinh trong hoa sen Tổ Payul Chogtrul Rinpoche, Đại sư Gyaltrul, Khai Mật Tạng Vương Konjo Rangtug Rinpoche, Jampal Jaypa’I Dorje (Chokyi Dawa), và Gyedro Wonpo Rinpoche, Tổ Dilgo Khyentse Rinpoche v.v…

Hai bên nội lẫn ngoại của Ngài đều thuộc dòng tộc của các bậc hiền thánh và chứng đắc. Thân phụ Ngài là Kim Cang thượng thừa Trưởng lão Washi Lama Lhundrup Gyamtso; thân mẫu Ngài là vị Yogini lỗi lạc Padma Lhamso. Khi mới sinh ra, Ngài được đặt tên là Pema Tumpo hay Pema Tumdrag Dorje (Hoa Sen Kim Cang Phẫn Nộ). Khi có mang Ngài, bà đã mộng thấy điềm lành, hiện ra trong mộng là một cây như ý lớn có 1.000 nhánh làm bằng mây trắng rực rỡ. Trên mỗi nhánh có một vị Phật đang đọc chú Guru, tức tâm chú của Đức Liên Hoa Sanh “OM AH HUNG VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUNG”. Khi ấy cả thân, tâm bà cảm nhận an lạc, hạnh phúc nhiệm màu.

Từ nhỏ, Ngài nổi tiếng thông minh, vừa mới 9 tuổi Ngài đã thông thạo Kinh điển và nghi lễ khi vừa mới đọc qua. Thủa nhỏ Ngài từng tu hạnh Khất sĩ và nhập thất liên tục 12 năm. Hành trang tu học của Ngài được hun đúc, hướng dẫn không chỉ bởi các thánh sư, thành tựu giả của các tông phái Phật giáo Kim Cang Thừa khác nhau như Mũ Đen, Mũ Vàng, Mũ Đỏ, Sakya v.v… mà còn do trực tiếp truyền thừa từ chư Phật, các Đại Bồ Tát, Hộ Pháp và các Dakini do tuỳ thuận nhân duyên ban truyền cho Ngài.

Cuộc đời của Ngài là chứng thực siêu phàm giữa minh chứng sống động và chân thực của thần thoại lẫn đơn giản, cụ thể của hiện thực.

Trong cuốn sách nổi tiếng “Magic and Mystery in Tibet” (Huyền Bí và Pháp Thuật ở Tây Tạng), tác giả David Alexander Neel đã nói một cách trân trọng, nể sợ về những vị Lama dòng Cổ Mật với lưỡi dao găm thiêng Phurba Kim Cang Quyết đầy quyền lực; thì ở đây người ta có thể lại gần, cúi đầu để được ban phước bởi vị Kim Cang Thánh Sư – Bậc nắm giữ dòng truyền thừa chân chính và oai lực của pháp bộ Kim Cang Đại Lực Vajrakilaya – Kim Cang Quyết. Trong ánh mắt từ ái vô biên của Ngài, nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đã pha lẫn cả oai lực nhiệm màu làm người hung dữ nhất cũng phải quy phục. Chỉ cần ở quanh Ngài sẽ có bao cơ hội để làm nhân chứng cho những điều huyền diệu xảy ra do lực gia trì và phép màu của Ngài thị hiện, mặc dầu những điều này sẽ không khỏi làm cho chúng ta bàng hoàng và xét lại nhiều luận lý khoa học.

Năm 8 tuổi là bước đầu rất quan trọng trong sự tiếp nối truyền thừa của hạnh nguyện và năng lực từ những tiền thân trước. Cùng trong năm này, Ngài đã thọ nhận các linh kiến tiên tri từ chính Đức Phật Di Lặc, Thánh giả Milarepa và Tổ Tsongkapa đã hiện thân đến với Ngài trong giấc mộng. Đây là dấu hiệu báo trước về sự nghiệp tu tập cũng như hoằng pháp của Ngài sẽ không phát triển phân biệt bộ môn, dòng phái. Và từ đó Ngài đã trải qua một quá trình huân tập diệu vợi như đã nói ở trên để sau này trở thành vị Đại Thánh Sư của mọi dòng truyền thừa Phật giáo.

Sau khi phụ thân qua đời, thân mẫu đã dẫn Ngài và chị gái về sống, tu học tại tu viện Tartang nổi tiếng của dòng Cổ Mật cũng trong vùng Golok, trụ trì tu viện này cũng thuộc dòng họ ngoại của Ngài. Tại đây Ngài đã thọ giới tăng sĩ và nhập thất liên tục nhiều năm dưới chỉ huấn của các danh sư trong đó có đại học giả lừng danh Akong Khenpo, vị này đã thực hiện và hoàn tất việc nghiên cứu và kết tập 100 bộ kinh điển Phật giáo quan trọng.

Khi ở tu viện Tartang và đang theo giới tăng, thực hành hạnh Khất sĩ, Đức Vajrapani Kim Cang Thủ Bồ Tát đã hiện ra trong thân tướng nửa phẫn nộ, nửa hoà dịu (chỉ dấu hành năng thị hiện tương lai của đời Ngài), và cho Ngài biết rằng để thực hiện sứ mạng hoằng pháp huyền nhiệm trong đời này, hạnh tăng sĩ không thích hợp cho công việc sẽ làm. Ngài sẽ phải tìm một hoá thân của Dakini (Không Hành Thiên Nữ) làm phối ngẫu, nhận mật ấn Kim Cang để nhập thế gian, hoằng Diệu Pháp. Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ Bồ Tát cũng nói rõ Ngài sẽ trở thành vị Khai Mật Tạng Đại Pháp Vương, bậc sẽ khai quật 3 loại Mật Pháp Bảo là:

– Mật Bộ Pháp Tâm Truyền,

Mật Bộ Pháp Bất Khả Tư Nghì hay Diệu Pháp được thể hiện qua những hành năng bất quy ước của các Đại Bồ Tát hoá thân, tuỳ căn cơ chúng sanh thị hiện gia độ,

Và Siêu Mật Bộ là pháp chỉ có thể khai mở được bởi vị Bộ Tát đã chứng 18 cấp bộ của các loại Pháp Bảo nói trên.

Trong kiếp này (cũng theo thông điệp tiên tri của Đức Kim Cang Thủ) Ngài sẽ khai quật các Pháp Bảo quan trọng sau:

– Mật Bộ Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ (Vajrapani)

– Mật Bộ Tam Bảo

– Mật Bộ Đạo Sư Quán (Guru Yoga: Acharya Padma)

– Mật Bộ Thành Tựu của 9 vị Thánh Tôn Trí Huệ

– Mật Bộ Yamantaka: (hiện thân phẫn nộ của Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát với thân tướng Hộ Pháp đầu trâu để hàng phục ma nghiệp trong thời Mạt pháp. Trong tiên tri của các vị Tổ khác cũng nhắc đến việc này và cũng nói thêm rằng sau khi Mật bộ này được Ngài khai mật, do công đức này, Chánh Pháp của Như Lai sẽ kéo dài trên quốc độ này thêm một kỷ nguyên ngoài thời gian đã được định sẵn)

– Mật Bộ Hayagriva (Quán Âm Phẫn Nộ Mã Đầu Minh Vương).

– Mật Bộ Vajravarahi.

– Mật Bộ Dakini Đầu Sư Tử.

– Mật Bộ Như Ý, Tài Bảo (Orgyen Dzambhala)

– Mật Bộ Kim Cang Đại Hùng Lực, Hàng Phục Vương (Vajrakilaya)

Và nhiều mật bộ quan trọng khác. (Cho tới nay những Mật tạng nói trên đều đã được khai mật trong nhiều trường hợp khác nhau, từ khe hở trên vách đá của sườn núi cao vợi, đến một chỗ dấu từ nghìn năm trong một tu viện cổ hay Mật tạng tâm truyền giữa không gian…)

Từ 13 tuổi trở đi, qua linh kiến, Ngài bắt đầu thường xuyên nhận lãnh sự truyền dạy trực tiếp từ Đức Liên Hoa Sanh, Đức Dakini Yeshe Tsogyal, Đức Vajrayogini, Đức Kim Cang Thủ Bồ Tát và một số các vị Phật, các vị Đại Bồ Tát khác.

Đến năm 16 tuổi, thân mẫu qua đời. Cuộc đời của Lama Sang bước sang giai đoạn thứ hai theo tiên tri là chứng đắc và hoằng pháp, độ sanh. Theo hướng dẫn và linh kiến của một vị thầy Ngài đang học trong thời gian đó là ngài Gyapto Umbo, nếu muốn đắc giải thoát Lama Sang phải gặp vị thầy định mệnh của mình trong đời này tức Khai Mật Tạng Vương Konjo Rantug Rinpoche (đây chỉ là một trong những danh hiệu, Ngài còn mang danh hiệu Ngagla Changchug Dorje hay Khenchen Tsewang Rigdzin). Vừa nghe đến tên Thầy, Ngài đã rung cảm mãnh liệt và đột nhiên oà khóc. Đạo sư Gyapto Umbo đặt hai tay lên đầu để chúc phúc cho Ngài và cho biết rằng đến thời điểm để ra đi.

Cậu bé mồ côi Kusum ngày ấy bắt đầu cuộc hành trình nhận biết và tìm về định mệnh cũng như sứ mạng của đời mình trong kiếp này. Ngài cùng chị gái cũng là một hành giả Phật giáo rất thanh tịnh, chuyên tu hạnh xả ly và pháp môn Bồ Đề Tâm, rời tu viện Tartang cùng dẫn nhau đi về hướng Lhasa để tìm thầy. Hai chị em đi bộ qua hàng tháng ròng rã, dưới thời tiết rất khắc nghiệt của Tây Tạng và cuối cùng Ngài đã gặp được ngài Konjo Rangtug Rinpoche, khi ấy đã 113 tuổi. Vừa thoạt nhìn thấy nét mặt sắc vàng uy diệu của Thầy, Lama Sang đã tức thời thức tỉnh dấu ấn của trí tuệ và công năng từ bao tiền thân dạt dào, Ngài dứt lìa được tri kiến phàm phu, dứt trừ ngũ lậu, đắc A La Hán.

Lama Sang và chị ở lại học với vị thầy định mệnh này một thời gian, rồi sau đó từ giã thầy lên đường tìm về tu viện Samye để thực hiện giai đoạn ba trong hành trình khai mở và tiếp nối dấu ấn trí huệ của tiền thân. Samye là tu viện Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng do chính Đức Liên Hoa Sanh và Ngài Shantarakshita xây dựng. Cuối cùng Lama Sang và chị gái đã tới được Samye vào năm 17 tuổi. Chính tại đây, Ngài đã linh nghiệm Pháp Thân trong trí tuệ Tính Không Bát Nhã diệu vợi. Riêng Khai Mật Tạng Vương Konjo Rangtug, chính quyền chiếm đóng Trung Quốc thời đó lo sợ ảnh hưởng của Rinpoche nên đã tìm đến để bắt Ngài cầm tù. Khi bị dẫn đến cửa nhà tù, trước sự chứng kiến của nhiều người, Rinpoche đã bay lên không trung, hiện thân cầu vồng và biến mất trong nỗi bàng hoàng, khiếp sợ của kẻ đi bắt Ngài.

Trong dịp viếng chùa Samye, vào năm Tỵ hành Hoả, ngày 10 tháng 10 lịch Tây Tạng, khi trú và ngủ lại bên ngoài thềm một chùa nhỏ thuộc về hướng Tây của chùa chính Samye, Lama Sang đã thiền định sâu đậm về lòng từ bi của Đức Liên Hoa Sanh (Guru Rinpoche). Trong lúc nhập định, Guru Rinpoche đã thị hiện trong thân tướng Bổn Tôn phẫn nộ (Heruka), tay cầm gương pha lê trong đó có 21 chữ AH (tượng trưng cho tính Không Bát Nhã hay Pháp Thân). Trong mỗi một chữ của 21 chữ Ah này chính là Guru Rinpoche thị hiện và tụng liên tục “Ah, Ah, Ah, Ah,…” Toàn thân của Ngài chứng nhập Hỷ Lạc và đồng thời nhận Tứ Quán Đảnh Trí Huệ được ban từ Đức Liên Hoa Sanh.

Đức Liên Hoa Sanh tiếp tục đọc 21 lần chữ Hri (tâm chú của Phật Vô Lượng Quang Amitabha), toàn thân Ngài Kusum tan biến thành ánh sáng và bắt đầu cuộc du hành về Tịnh Độ Phẫn Nộ của cõi tha ma rực lửa, là tịnh độ cao cấp nhất của Pháp Thân. Linh quang của Ngài theo sát Bổn Tôn phẫn nộ Heruka (Đức Liên Hoa Sanh thị hiện) như cha với con. Ngài đã nhìn thấy mình vượt qua núi lửa Zalung Dha tuyệt đẹp của Tịnh Độ Phẫn Nộ, rồi được chim Ca Lăng Tần Già của cõi Tịnh Độ hướng dẫn Ngài bằng tiếng hót vi diệu đến gặp một vị Hộ Pháp của dòng Longchen Nyingtik.

Sau đó một thiên nữ áo trắng rạng rỡ ngồi trên sư tử tuyết đến giúp Ngài du hành qua Tịnh Độ Phẫn Nộ đến gặp vị Phật của Quốc độ thanh tịnh này là Phật Tongpa Jona Pawo Thubten đang được vây quanh bởi hằng hà sa thiên nữ, thiên nam, chư vị Bồ Tát, Thiện thần và các quyến thuộc. Vị Phật này giảng Kim Cang Mật Pháp cho Lama Sang. Tức khắc Ngài được trao truyền Tam Thừa Kinh Mật, Bí Mật Tạng. Gia Trì của Đức Phật cõi Tịnh Độ này tuôn chảy, chan hoà rót vào Ngài như thác đổ.

Thiên nữ áo trắng này tiếp tục lại tiếp tục hướng dẫn Lama Sang lên tầng trên của cõi Tịnh Độ Phẫn Nộ, tại đây ngài đã gặp Kim Cang Đại Lực Sĩ Vajrakilaya Kim Cang Quyết và vô số chư hộ pháp đang vây quanh. Ngài đã nhận giới của Thành Tựu Giả và quy y Tam Căn Kim Cang (Đạo Sư, Bổn Tôn hay Hộ Pháp và Dakini) từ ngài Vajrakilaya (đây là điềm báo Ngài sẽ trở thành vị nắm giữ dòng truyền thừa trực tiếp của Pháp Bộ Vajrakilaya). Sau đó Hộ pháp Ekajati đã hiện thân và tiên tri hướng dẫn trước cho Ngài về tương lai.

Trong dịp này, Ngài đã nhớ lại 17 tiền thân của mình, trong đó có kiếp Ngài đã là chim Phượng Trĩ trong câu chuyện Huyền thoại Đại Bảo Tháp của Đức Liên Hoa Sinh, có kiếp ngài là Đại Thánh Tăng lừng danh bên Trung Hoa, làu thông Ngũ Minh (Thanh Minh, Nhân Minh, Công Xảo Minh, Y Phương Minh và Nội Minh), có kiếp Ngài là Thành Tựu giả Mật thừa bên Ấn Độ v..v..

Và cũng từ đó Ngài nhận được linh kiến về một sứ mạng tương lai của mình đặc biệt liên hệ đến định mệnh của thế giới. Trong kiếp tương lai này, Ngài sẽ là một trong những Vị Hộ Pháp chính để bảo trì Chánh Pháp, an lạc và hoà bình cho cõi địa cầu. Khi ấy, ngài sẽ sinh làm Tsampa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của vương quốc Shambala (theo Kinh điển tức là cõi Cực Lạc siêu việt nằm ẩn sâu ở vùng núi tuyết trên mặt đất. Đây là một vị trí linh thiêng, chỉ các bậc thành tựu tâm linh mới thấy và tới được, người thường không thể đến và không thể thấy.) Vào lúc ấy do nghiệp lực chúng sanh, những kẻ hung dữ, bạo nghịch, báng pháp sẽ lan tràn, tàn phá, gây khổ đau khắp nơi, huỷ hoại giá trị của đạo đức và Chánh Pháp. Chúng sẽ tìm đến và đánh phá để huỷ diệt thành trì tâm linh cao quý của cõi địa cầu là cõi Cực Lạc Shambala. Trong trận chiến cuối cùng ấy, Ngài sẽ thống lãnh binh đoàn của Shambala và chiến thắng quân đoàn của Ma đạo, gìn giữ, kiến tạo hoà bình, an lạc và Chánh Pháp cho trái đất cùng thế giới.

Linh kiến này đã thể hiện rõ ràng trong sự nghiệp hoằng trì Chánh Pháp của Ngài. Bộ pháp Kim Cang Đại Lực Sĩ (Vajrakilaya) cùng Đạo Sư Quán (Guru Yoga) thường được xem là pháp bộ chính mà Lama Sang trao truyền cho các môn đồ. Hiện nay đã có rất nhiều trung tâm Vajrakilaya được thiết lập khắp năm châu.

Trong lúc giảng Pháp, Tôn Giả thường nhắc nhở các môn đồ, hành giả Kim Cang phải lập nguyện kiên cố tu trì để hộ thân mình và chúng sanh trong thời đại dữ dội này và cũng để chuẩn bị hành trang cho sứ mạng hộ trì thế giới ở kiếp tương lai.


Lòng Thành Với Các Đạo Sư

Trong Kim Cang Thừa, giới trọng nhất là giới Đạo Sư. Người ta thường nói rằng một bậc thầy chân chính là cánh cửa đầu tiên dẫn vào giác ngộ, hoặc không có bậc thầy ngay cả một chữ “Phật” bạn cũng khó lòng nghe thấy. Quan hệ thầy trò đóng vai trò tiên quyết trong việc thành tựu của một hành giả Mật thừa. Quan hệ này do bởi nhân duyên, do bởi lòng thành, do bởi phước báu, do bởi nỗ lực nơi hành giả mà thiết lập và phát triển. Mức độ thành tựu của hành giả tuỳ vào mức độ phát triển quan hệ thầy trò giữa hành giả và vị đạo sư truyền giới, truyền pháp. Khi đã thuần thục và viên mãn, Tâm Trò kết vào Tâm Thầy không còn phân biệt thì Trò sẽ đắc mọi pháp mà thầy mình đã chứng đắc. Quá trình này rất công phu, nhiệm màu và siêu việt, ở đây chúng ta chỉ nhắc đến mức độ truyền cảm sâu đậm giữa thầy và trò.

Không chỉ là một bậc thầy vĩ đại, Ngài còn là một người học trò tiêu biểu. Lòng thành của Ngài với các bậc thầy Ngài đã theo học được biểu hiện thiết tha mỗi khi Ngài nhắc đến các vị thầy trong các buổi giảng pháp. Hình ảnh của các vị thầy thường được in màu và phát cho các môn đồ để quán tưởng hầu nhận được gia trì của các Ngài. Lama Sang luôn đề cập đến lòng tử tế vô biên của các vị thầy kể cả qua những lần Ngài bị phạt vì tội nghịch ngợm. Nhìn Ngài để hình của thầy mình lên đỉnh đầu với tất cả sự trân trọng, trong khi bật cười kể những kỷ niệm vui của Ngài với các vị thầy, người ta có cảm giác như Lama Sang đang thực sự sống trong khung cảnh hành chục năm trước dưới chân thầy. Như đã nói ở trên, bậc thầy của Ngài không chỉ mang thân tướng hữu hình của thế gian, mà còn là các vị Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp và Thiên Nữ của thế giới tâm linh.

Một kỷ niệm mà người viết không bao giờ quên được là trong một khoá tu hàng năm ở San Diego cách đây hai năm trước vào mùa thu 2005; đang giảng pháp đột nhiên nét mặt Ngài đổi khác, vẻ nghiêm nghị của giảng sư chợt đổi thành nét lặng buồn, xa vắng và tràn đầy xúc động. Ngài bỗng chợt nói chuyện về ngôi chùa Samye ở khu Lhasa với mái màu ngọc lam, ánh sáng mờ mờ trong ngôi điện chính với bậc thầy mà không ai khác hơn chính là Tôn Sư Liên Hoa Sanh khi đó đang ban truyền bộ pháp Tài Bảo, Như Ý Orgyen Dzambhala cho ngài là Lhalung Palgi, một trong 25 môn đồ thân cận nhất và là người đã được chọn để làm người kế thừa pháp Như Ý, Tài Bảo Mật Bộ Kim Cang Orgyen Dzambhala (và là tiền kiếp của Ngài).

Cả giảng đường lặng yên, tất cả đều bao phủ bởi làn không khí màu nhiệm và năng lực sống động qua từng dòng, từng tiếng nói qua câu chuyện kể của Ngài. Mọi người như cùng Ngài ngược dòng thời gian về hơn hai ngàn năm trước trong sự gia trì vô biên mà như đang cận kề của Đức Liên Hoa Sanh và Tôn Giả Lhalung Palgi.

Rồi Ngài chợt trở lại, thật ngậm ngùi, dường như cũng vương vấn và tiếc nuối bảo các môn đồ rằng: “… Thầy tôi (Đức Liên Hoa Sanh) thật tử tế biết bao nhiêu, Ngài luôn bắt tôi tu tập khắt khe để có được kết quả trong một đời. Ngày nay tôi không may mắn như vậy vì môn đồ của tôi lười biếng hơn, lại thích chạy theo những giá trị vật chất tạm thời, các danh xưng giả hiệu mà không chịu trú tâm tu tập; khi có nạn lớn làm sao có đủ năng lực và phước báu để hộ thân. Lòng từ bi của thầy tôi (Đức Liên Hoa Sanh) đã truyền trao cho chúng tôi, và để truyền đến các quý vị ngày hôm nay thật bao la, vĩ đại biết bao; nhưng quý vị thường không hiểu và để mất những cơ hội vô cùng quý báu…

Ngài yên lặng, cả giảng đường nín lặng. Tôi rơi lệ, Lama Sherab Dorje rưng rưng nước mắt, tất cả mọi người cùng muốn khóc…


Kim Cang Bất Hoại

Khi Trung Quốc vào chiếm đóng Tây Tạng, Ngài cùng hơn 400 tăng sĩ, hành giả quan trọng của Phật giáo Tây Tạng đã bị cầm tù vì tội sinh hoạt tôn giáo và xúi giục tu tập. Sau khi trải qua các đày đọa khắc nghiệt của chính sách tù đày chỉ có 4 người còn sống sót. Trong số này có Ngài và

một vị Lạt Ma hiện vẫn còn sống và tiếp tục sinh hoạt tại tu viện Thubten Chokhor Ling. Thời ấy, không một ai được quyền mang chuỗi hạt, không nhà nào được để hình Phật, kể cả màu áo tăng sĩ là màu đỏ cũng không được phép sử dụng. Riêng Ngài nhất quyết không chối bỏ tôn giáo của mình dù phải trả một giá nặng nề cho thái độ tâm linh của mình. Vì thế Ngài đã bị bắt giữ, ra vào tù rất nhiều lần, trải qua đến hơn 23 năm, trong thời gian này Ngài cùng các Hộ Pháp linh thiêng đã thị hiện biết bao nhiêu phép lạ làm kẻ chiếm đóng bạo ngược cũng phải sợ hãi. Họ tìm cách trấn áp oai lực của Ngài bằng cách tìm đủ cực hình dã man nhất để chứng minh rằng những gì gọi là Kim Cang bất thoái cũng phải chịu thua bạo lực. Dưới tuyết lạnh hơn 0 độ, họ cởi trần và cột Ngài trên tảng đá lạnh, tay chân dang rộng buộc vào đá. Giữa những ngón tay và ngón chân nhét gỗ để chặn cho không thể cử động được, và bỏ mặc Ngài cùng một số bạn tù ngoài tuyết lạnh nhiều ngày.

Người ta vẫn thường đồn rằng xung quanh Tôn giả Kusum luôn có Hộ pháp Kim Cang độ trì và điều này đã được chứng minh. Sau một tuần lễ, khi bao người bỏ mạng, Ngài vẫn còn sống. Dù những ngón tay, ngón chân đã bị tê dại không còn cảm giác, có ngón đã gẫy rụng, năng lực tu tập hoả hầu của bậc thượng thừa đã tồn dưỡng sinh mạng Ngài. Trong lúc đó một hiện tượng xảy ra, kẻ đã ra lệnh hành hình Ngài đột ngột chết một cách lạ thường. Họ vội vàng thả Ngài ra, theo nhân chứng thuật lại, sau đó thêm một số những kẻ trực tiếp hãm hại Ngài cũng lần lượt chết đột ngột và chết dữ theo đúng luật nhân quả kinh sách đã dạy về tội làm huỷ hoại, chảy máu thân Phật, thân Đại Bồ Tát thì nghiệp quả hiện tiền tức khắc và phạm tội vô gián (ngày nay chúng ta có thể nhìn thấy kết quả tương tự nơi chính quyền bạo lực Taliban đã bị huỷ diệt ngay sau khi họ phá tượng cổ vĩ đại từ thế kỷ thứ 3).

Khi ở trong khám, các nhân chứng còn sống sót thường kể lại rằng khi không có quản giam, Ngài thường thị hiện tháo rời còng tay để chứng minh cho các Lạt Ma cùng giam rằng không có gì quản thúc được thân thanh tịnh. Nhưng cũng chính trại tù cũng là nơi Ngài dùng làm chỗ an toàn nhất để tu tập và bí mật truyền pháp cho những người có duyên được ở gần.

Tôn giả cũng thường thị hiện nhiều thân (phân thân) để giáo hoá và hỗ trợ niềm tin, sức mạnh cho dân Tây Tạng trong giai đoạn khổ đau trên. Một thân Ngài ở trong trại tù, vẫn chịu đoạ đày mà theo Ngài giảng giải là chịu khổ để giải nghiệp dữ của chúng sanh. Cùng lúc người ta lại thấy Tôn Giả Kusum đi khất thực ở 1 vùng lân cận. Khi quản tù nghe tin, vội lại bắt giữ thì Ngài biến mất. Về tìm ở trại tù, Ngài vẫn còn ở đó làm việc không ngưng nghỉ dưới nghiệt ngã của cai tù. Phong độ phi phàm của hàng Bồ Tát đã trụ giải thoát, giữa khó khăn cùng khắp vẫn ung dung tự tại, rong chơi an lạc giữa ta bà đã điều phục tâm một số người trước đây là kẻ hành hạ Ngài, nay dù vẫn còn thuộc chính quyền sở tại đã trở thành môn đồ của Phật giáo với niềm tin kiên cố vào Tam Bảo và nơi bậc đạo sư chân chính. Điều này đã tạo nhiều thuận lợi về sau này cho việc thành lập Tu viện hiện nay.

Để giáo hoá chúng sinh, suốt đời Ngài đã từ bi thị hiện nhiều sự nghiệp kỳ diệu như trị bệnh, cứu người sống lại, khiển mưa, trừ tà…

Chữa Bệnh Dịch Phong Cùi

Y như lời tiên tri đã được ghi lại, khi Ngài gần 20 tuổi tại Tây Tạng dịch phong cùi bộc phát khắp nơi miền nam Golok, không có cách gì chữa trị. Những người bệnh phải tập trung vào một vùng biệt lập. Họ sống rất đau khổ, từng phần thân thể bị huỷ diệt, ăn dần ăn mòn bởi vi khuẩn bệnh cùi, xa cách với người thân, xã hội bên ngoài, không ai dám lại gần vì sợ lây bệnh. Nguy hiểm hơn là bệnh đã lan rộng ngoài tầm kiểm soát, không có biện pháp hữu hiệu nào để phòng ngừa hoặc cứu chữa. Chính lúc đó Tôn Giả Kusum đã nhận được linh thị và khai mở tâm Mật Tạng Kim Cang Vajrapani. Bằng tâm từ bi bao la, Ngài đã đi một mình vào vùng phong cùi, dạy cho những người bệnh thực hành pháp tu Kim Cang Mật Bộ và dùng oai lực của mình dưới sự gia trì của chư Phật chữa trị cho họ, đồng thời chặn đứng việc lan truyền của dịch phong cùi. Dưới năng lực Kim Cang bất hoại dù ở chung với người bệnh bao ngày, Ngài không hề bị nhiễm bệnh.

Ở đây cần nhắc lại rằng hành năng Đại Bồ Tát này của Ngài đã được tiên tri rất chi tiết bởi các Thánh Tổ Phật giáo từ mấy trăm năm trước. Oai lực Kim Cang của Ngài được thể hiện trong mọi sinh hoạt, mọi phương diện của đời sống. Ngài thị hiện tuỳ theo nhu cầu, tâm tính của chúng sinh để cứu độ.


Hàng Ma, Phục Quỷ

Thủa Ngài còn trẻ tuổi, tại một làng ở Tây Tạng, trong một gia đình chuyên luyện tà ngải đã bao đời; do từ trường của tà pháp, khi người cha chết đã trở thành quỷ nhập tràng để khuấy phá gia đình và dân làng. Quỷ nhập tràng là một loại quỷ dựa vào thân xác người và có thể đi lại sinh hoạt theo tính khí của quỷ. Điều đáng sợ là nó có một sức mạnh khủng khiếp, có thể đẩy một lúc 6 người thanh niên mạnh mẽ hay xô đẩy cả một căn nhà; nó chính là 1 xác người nhưng không chết. Bao nhiêu pháp sư được mời tới đều bị đánh bại hoặc giết chết. Cuối cùng, người ta tìm được tới Tôn Giả, khi ấy còn trong tuổi thanh niên. Ngài đã thị hiện Vajrakilaya Kim Cang Lực Sĩ và hàng phục quỷ nhập tràng, độ cho nó siêu thoát, chấm dứt ác nghiệp và dẹp đi khủng hoảng, mang lại bình yên cho dân làng rồi sau đó hoá độ, hướng dẫn cho họ thực hành thiện nghiệp, dứt bỏ ác nghiệp.

Tại Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Mexico, Mỹ Quốc và những nơi Ngài đã từng hoằng Pháp, đâu đâu cũng có rất nhiều chuyện kể, sự tích từ các nhân chứng sống về việc Ngài thị hiện hàng ma, phục quỷ. Con mắt trí huệ của Ngài luôn để ý, gìn giữ, hộ trì thế gian qua các hành năng giác ngộ. Ở bất cứ nơi đâu Ngài cũng thực hiện nhiều việc nhiệm màu hàng phục các tà lực để điều hòa, hòa hợp năng lực trong thế giới vô hình cho mọi sự được tốt đẹp, thuận duyên hơn; không chỉ để mang lại phúc lợi cho con người mà còn tới cả những chúng sinh vô hình, những kẻ cang cường, ngỗ nghịch đang tạo ra chướng ngại cho nhân loại, cho mình trong tương lai và đặc biệt là các hành giả Kim Cang Thừa.

Trong lần nhập thất trường bộ Vajrakilaya đầu tiên ở San Diego năm 2002, trên vùng đồi xa, địa phương của người da đỏ bản xứ. Khu nhập thất ở trên núi cao, nơi các thầy Mo da đỏ (Shaman) thường đến để thực hiện các lễ cúng tế, phép tắc các vị thần của họ. Người tổ chức là anh Dương Tiến Đạt chia phiên cho những người nhập thất tu tập bộ pháp Kim Cang Đại Hùng Lực Hàng Phục Vương Vajrakilaya nhằm hồi hướng đến hòa bình thế giới và giải trừ chướng nạn cho nhân loại.

Trong đêm đầu tiên khi những người nhập thất thay phiên nhau tu tập và đổi ca thì chợt chó sói hú rền vang quanh trại, mặt đất rung lên như có nhịp chạy sầm xập của hàng đoàn lực sĩ. Chị Mai đang nằm ngủ để chờ thay ca thì thấy có người thân hình to lớn, da nâu xậm, cởi trần chạy vào phòng như muốn đuổi chỗ; chị vội vàng nhập tâm gọi Lama Sang và nỗ lực trì chú Kim Cang thì hiện tượng này biến mất. Một đồng đạo người Mỹ khác cắm lều bên ngoài nội trú của nam giới vừa bước chân ra để chuẩn bị lên thất theo ca của mình thì chợt vấp ngã trẹo cả chân. Theo anh kể lại như có người vô hình nào đó đẩy anh từ phía sau. Tuy thế anh vẫn quyết tâm lết lên thất tu tập và sau đó đã được Lama Sang chữa lành cho. Sáng hôm sau Ngài cho biết đó là những thần đất, thần núi và thần lửa của dân da đỏ địa phương. Họ đến thị oai để chứng tỏ chủ quyền và tỏ ý không muốn bị người lạ quấy nhiễu. Ngài đã dạy các môn đồ có mặt tại đó làm pháp Tsok cúng dường Hộ Pháp để hàng phục, trấn an và hồi hướng phúc lợi cho các sinh linh và các lực lượng, thế lực vô hình nơi đó để họ được an lạc, đầy đủ và hỗ trợ cho giáo Pháp. Đang giữa lễ Tsok, hàng ngàn ngọn nến được thắp lên trong những khay nhôm bất ngờ bùng cháy rừng rực làm mọi người giật mình nhưng Ngài bảo đó là các Thần nhận lễ và cam kết Hộ Pháp. Từ đó mọi chuyện đều cát tường và suôn sẻ.

Trong suốt kỳ nhập thất này, Lama Sang đã cho đọc Kinh quy y nhiều lần để cùng hướng dẫn cho chúng sinh hữu hình và vô hình nơi đó được quy y theo Tam Bảo. Hình chụp và băng thu của những kỷ niệm này đều được lưu giữ lại để sau này các môn đồ sẽ thực hiện kỷ yếu hành trình hoằng Pháp của Ngài.


Hoằng Pháp tại Mỹ

Ngài là bậc tâm thông với trí huệ vượt không gian và vượt cả thời gian và là nguồn cảm hứng tâm linh vô cùng mãnh liệt cho những người hữu duyên gặp được Ngài. Chadug Rinpoche, một danh sư của Phật giáo Kim Cang Thừa và đã thành lập rất nhiều trung tâm Phật giáo Tây Tạng trên thế giới kể cả tại Mỹ. Khi còn sống, Chadug Rinpoche đã bày tỏ ước vọng muốn được gặp ngài Kusum để xin thọ một số pháp môn thượng thừa tối mật. Sau đó hơn mười năm trước đây Rinpoche đã mời Tôn Giả Kusum Lingpa sang bên Mỹ để truyền pháp. Từ đó, nhân duyên của Tôn Giả cùng các Phật tử bên Mỹ đã nở rộ như hoa đào đang xuân. Theo truyền thống bất phân biệt của hàng Đại Bồ Tát hoá thân, Ngài cũng thọ nhận và trao đổi một số bộ pháp tối thượng thừa với Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhiều danh sư thuộc những dòng phái Kim Cang Thừa khác.

Linh Kiến

Với Ngài, dường như thời gian không có rào cản, linh thị xuất hiện không báo trước; có thể bất chợt xảy ra trong sinh hoạt thường nhật của Ngài hay cả khi đang giảng pháp.

Vài năm trước đây, khi đang chờ lên buổi giảng sáng tại một trung tâm ở Coosbay của Judy và Clyde Crawford, chợt Ngài rung động với truyền cảm khai mật một tâm pháp tối mật. Một môn đồ Sherab Dorje khi đó là luật sư hình luật nổi tiếng ở New York, trong vai trò thông dịch đã được gọi đến để ghi lại (Hiện vị này đã từ bỏ nghề luật sư để tập trung tu học và đã mở trung tâm Kim Cang Phật giáo Blazing Wisdom tại tiểu bang New York). Lama Sherab Dorje sau hai ngày ghi chép đã thuật lại rằng năng lực pháp bảo tâm truyền vô cùng dạt dào và mãnh liệt. Tôn Giả đã khai pháp bảo tâm truyền này qua những dòng kệ thơ tuôn chảy liên tục như thác đổ không ngừng nghỉ, có khi Ngài ngừng lại để đích tay vẽ hay hướng dẫn người ghi chép lại đồ hình của các mandala bí mật. Cả hai người Lama Sherab Dorje lẫn Thầy Dorje Trangpo thay nhau ghi chép mà không kịp với mức độ của Lama Sang tuyên đọc. Theo Lama Sherab Dorje, ngữ văn của Pháp Bộ Truyền Tâm này vô cùng sâu diệu, đẹp đẽ đến không ngờ.

Tại Nam và Bắc California, nhiều lần giữa các buổi giảng pháp linh thị về tiền thân hoặc tiên tri cho Hiền kiếp chợt xảy ra. Các môn đồ thường chứng kiến cảnh Ngài đột nhiên thay đổi nét mặt, có khi Ngài nhìn chăm chăm vào không gian, hoặc mỉm cười, hoặc đăm chiêu, buồn bực hay cả có lúc giận dữ… Có lần ở Trung Tâm Hungkar Ling, Berkley, California sự kiện này đã kéo dài gần một tiếng. Từ người thông dịch đến các môn đồ đều nín lặng, đợi chờ trong sự tôn trọng tuyệt đối… Không gian lẫn thời gian dường như ngưng đọng…

Rồi Ngài trở lại trong trầm mặc và buồn bã. Ngài nói cho chúng tôi nghe về linh thị (clairvoyance) của thảm họa tương lai tại Mỹ quốc mà Ngài đã nhìn thấy. Đó là lần Ngài tiên tri về nạn hồng thủy Katrina đã làm thiệt mạng cả ngàn người tại Trung Mỹ.

Thị Hiện Oai Lực Để Cứu Độ Tại Mỹ

Trong quá trình sinh hoạt hoằng pháp cứu nhân độ thế của Ngài tại Mỹ, người ta đã chứng kiến bao nhiêu kết quả nhiệm màu qua pháp lực siêu việt và lòng từ bi tha thiết của Ngài. Như ngón tay của Đức Phật Thích Ca chỉ xuống mặt đất “Ta Bà (trái đất) là chỗ chứng minh” để trả lời câu hỏi của Ma Vương: “Làm sao tôi tin được lời Ngài nói?”; chứng tích, oai lực của Tam Bảo và hành năng giác ngộ của Ngài được biểu hiện qua các sự việc linh động, màu nhiệm ngay trong đời sống của các môn đồ từ California, San Jose, đến Colorado, Oregon, New York…

Mới đây, trong số môn đồ có người bệnh nặng bệnh viện đã cho là tuyệt vọng, trước khi vào hôn mê, đã theo đúng phép tu: chí thành cầu nguyện Phật Bổn tôn và cầu nguyện Ngài cứu độ. Trong cơn hôn mê, vị này thấy Tôn Giả hiện ra bảo không việc gì, mọi chuyện sẽ thoát. Sau đó, người này tỉnh lại và qua khỏi cơn nguy cấp, nay đã trở lại sống và sinh hoạt như bình thường.

Có nhà tại California bị ma ám, người nhà tự tử chết, do uất ức nên không siêu được, đã chết rồi còn hiện ra giữa ban ngày, bao nhiêu đàn cầu siêu không giải được. Đại Sư được thỉnh đến đã giải oan tế độ cho người chết và lại hoá độ cho cả gia đình học hỏi Phật Pháp, làm lành lánh dữ. Vợ chồng gặp khó khăn, gia đạo xào xáo, bằng con mắt thần thông trí huệ Tôn Giả đã giải thích cho họ về nghiệp báo và hướng dẫn họ tạo dựng hạnh phúc bằng giá trị chân chính. Không môn đồ nào mà không cảm nhận ân đức cứu độ của Ngài từ cứu bệnh, cứu khổ, cứu đói, cứu tù, hàng ma, phục quỷ và cuối cùng là hướng dẫn rốt ráo của bậc Đạo Sư Giác Ngộ.

Hoằng Pháp Dạy Chúng

Như tiên tri đã ban trực tiếp cho Ngài từ thời thơ ấu qua Linh kiến thị hiện của Kim Cang Thủ Bồ Tát, Tôn Giả hoằng pháp, dạy chúng sinh tuỳ theo căn cơ, nhân duyên của mỗi người. Với những bậc tân học hay thiếu căn (tật nguyền), Tôn Giả truyền những pháp môn căn bản và dễ hành trì theo như quy y, phát Bồ Đề Tâm, trì chú, lạy Phật diệt tội, quán Tịnh Độ Cực Lạc và hồi hướng. Với kẻ hữu duyên, Tôn Giả từ từ phát triển Bồ Đề Tâm, thiền Tứ Diệu Đế, Tính Không Bát Nhã, tu tập các phép tu Kim Cang căn bản. Khi tâm đã thuần, tánh đã thông, trí huệ thanh tịnh hiển lộ, Tôn Giả sẽ gia trì, dẫn dắt vào dòng thiền Đại Viên Mãn của phép tu chứng thượng thừa.

Tôn Giả không chỉ dạy pháp mà chính Ngài là một bài pháp sinh động, tuyệt vời và là nguồn cảm hứng tâm linh vô cùng mãnh liệt cho bao kẻ hữu duyên gặp được Ngài. Là một thiền sư siêu tuyệt của dòng thiền Đại Viên Mãn (Dzogchen), Ngài thường dùng các phương tiện thiện xảo với lối chỉ dạy đột xuất, mạnh bạo, bất quy ước và hiệu quả nhanh chóng ngay trong đời này. Cả đại chúng đông đảo đang chắp tay tín thành chờ đợi, Ngài đột nhiên xuất hiện trong tấm váy hoa phụ nữ, đùa cợt, tiêu dao. Giữa lúc hàng đệ tử sơ cơ đang bàng hoàng, kinh ngạc và có kẻ còn sợ hãi; Ngài đã lấy thân mình để chỉ thẳng vào cánh cửa Pháp Thân, đạp vỡ lý bất nhị, gạt phăng mọi giáo điều, đạo đức giả dối để giúp môn đồ nhìn thẳng vào tự tánh, hiểu được Chân Như Bổn Giác.

Thấu triệt chân lý nhân quả, biết rõ Ngũ độc là nhân của khổ đau, lòng tham lam, bủn xỉn là nguyên nhân của nghèo cùng, Ngài luôn tạo ra cơ hội giáo hoá người chung quanh để họ bớt đau khổ trong mọi mặt. Nếu đã đọc chuyện về Thập Đại Đệ Tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hẳn ai cũng nhớ câu chuyện “Bán nghèo” nổi tiếng trong sự nghiệp hoằng pháp dạy chúng của Tôn Giả Ca Chiên Diên.

(Trích lược câu chuyện “Bán nghèo ”: Vào thời Đức Phật, có một bà lão rất nghèo khổ, một lần bà gặp ngài Ca Chiên Diên – một trong những đại đệ tử của Đức Phật, lúc đó đã đắc quả A la hán đi khất thực. Bà lão liền hỏi ngài Ca Chiên Diên, vì nguyên nhân gì mà số phận bà lại khổ cực, nghèo khó như vậy. Ngài Ca Chiên Diên giảng cho bà về lý nhân quả, về việc giàu là do làm công đức bố thí từ những đời trước, nghèo là do nhân bủn xỉn, ít bố thí… Sau khi nghe giảng xong, bà lão rất hoan hỷ nhưng bà nói, tôi đã hiểu lý nhân quả nhưng giờ tôi nghèo quá, không có gì để thực hành bố thí cho ai cả. Ngài Ca Chiên Diên liền nói, Đức Phật đã giảng cúng dường một bậc A la hán – Ứng Cúng thì phước đức vô lượng, giờ tôi đã đắc quả A la hán, giờ bà hãy bán cái nghèo của bà cho tôi bằng cách ra sông múc một bát nước rồi cúng dường cho tôi. Bà lão nghe xong rất hoan hỷ ra bờ sông múc 1 bát nước cúng dường tôn giả Ca Chiên Diên.

Sau này, khi bà lão mất lập tức được sinh trên cõi trời trong thân một thiên nữ vô cùng xinh đẹp, ngự trong cung điện châu báu cõi trời. Bà đã bay xuống pháp hội Đức Phật kể lại chuyện bán nghèo của mình để cảm tạ Đức Phật và ngài Ca Chiên Diên…)

Ngày nay, Tôn Giả Kusum cũng sử dụng cùng phương pháp như tiền thân của mình. Ngài không ngừng thực hiện các công trình tâm linh vĩ đại với giá trị lợi ích vô biên rồi hướng dẫn người khác tham gia để họ được lợi ích. Trong các buổi giảng pháp, Ngài thường gọi mình là Người Hành Khất vĩ đại, ăn mày lòng hảo tâm của đại chúng và kêu gọi họ đóng góp, cúng dường rốt ráo để giúp họ giải nghiệp và tăng trưởng công đức. Ngày nay, dưới hướng dẫn của Ngài là bao nhiêu hành giả Kim Cang tu hành kiên cố, lập hạnh Bồ Tát, tu tập rốt ráo và luôn làm việc lợi ích cho tha nhân.

Tu Có Bảo Đảm

Với tự tin tuyệt đối, Ngài luôn nhắc nhở các môn đồ phải chú tâm và nỗ lực tu hành theo từng bộ pháp thuận với nhân duyên của từng người. Bằng lòng từ bi tha thiết, Ngài không ngừng truyền giảng giáo lý Kim Cang Thừa và dũng mãnh bảo chứng kết quả của việc tu tập. Nắm vững dòng truyền thừa bí mật của Phật pháp siêu việt với kết quả tu chứng hiện tiền, Ngài được xưng tụng là vị thầy dạy “Tu có bảo đảm”.

Do hoàn cảnh nghiệp lực hiện nay của trái đất và nhân loại, Tôn Giả thường ban bộ pháp Kim Cang hộ trì (Vajrakilaya, Yamantaka, Vajrapani, Orgyen Dzambala) và bộ pháp Bardo để chuẩn bị hành trang lên đường cho hành giả Kim Cang khi từ bỏ kiếp này sẽ được Tôn Giả hộ trì về Cực Lạc quốc độ, chấm dứt khổ đau sanh tử.

Môn đồ của Ngài ở khắp cả tam cõi sáu đường. Khi Ngài ngự pháp toà, các môn đồ có năng lực có thể cảm nhận được sự tham dự của chư thiên và chúng sanh của những cõi giới khác. Điều này không chỉ được diễn tả bằng cảm giác mà có thể minh chứng bằng khoa học. Mới đây, trong pháp hội Shambhala tại tu viện ở Golok, một số môn đồ từ nước Mỹ và Âu Châu đã tới chụp hình lưu niệm. Trong các hình rửa ra, đã ghi lại nhiều hiện tượng rõ ràng, nếu dựa theo hình tượng và những điều đã được ghi lại từ kinh Phật đã dạy từ nghìn xưa thì thật chính xác là chư thiên cùng chúng sanh các cõi giới khác đã tham dự Pháp Hội khi các Đại Bồ Tát thị hiện giảng dạy.

Ngài cũng dạy thêm về tâm của chúng sanh; đó chính là biểu hiện của các cõi giới khác. Kẻ ngu si khác nào súc sanh, kẻ hung dữ khác nào a tu la, kẻ bủn xỉn khác chi loài ngạ quỷ… Nhưng hành giả Phật giáo phát nguyện hành Bồ Tát Đạo, phát tâm Bồ Đề nguyện độ chúng sanh thì phải thương, phải phụng sự hết mọi loài. Vĩ đại biết bao nhiêu trong lời nhắc nhở của Ngài đến các môn đồ rằng đối với kẻ thù, kẻ hung tợn, sai lầm thì lòng vị tha cũng còn chưa đủ; người hành giả chân chính phải hết lòng vì kẻ thù, vì người hại mình mà cầu nguyện cho họ, và hồi hướng công đức cho họ được lợi ích, an lạc. Vì như thế có thể cởi bỏ nghiệp dữ từ trước mà do quả báo này mình đã bị họ làm hại. Không những chẳng nên oán hận mà còn phải phát nguyện để gieo trồng chủng tử Bồ Đề tốt qua nơi quan hệ của người thù nghịch với mình, cho dù quan hệ này đã có thể làm cho mình đau đớn đến vô vàn.

Phóng Sanh

Pháp môn được Ngài coi trọng bậc nhất và chỉ thị cho môn đồ, Phật tử các nơi phải luôn thực hành là pháp phóng sanh. Theo Lama Sang, chiến tranh bùng nổ là do con người đã phạm nghiệp sát nặng nề bởi tâm bất tịnh điều khiển. Ngài thuật lại rằng trước đây do điều kiện sinh tồn, các tăng sĩ Tây Tạng buộc phải ăn thịt trừu do những người Muslim mang đến bán. Ngày nay, do vận chuyển dễ dàng hơn, các tăng sĩ ở tu viện đã được khích lệ chuyển qua ăn chay, và hàng năm tu viện tổ chức lễ hội Shambhala để cầu nguyện, hồi hướng cho chúng sanh, đặc biệt là những thần thức của những loài vật đã bị hy sinh để nuôi mạng sống con người được siêu thoát, sinh về Cực Lạc Quốc.

Nếu thực hành phóng sanh với tâm niệm thanh tịnh để hồi hướng chân thành đến an lạc của thế giới, công đức này có thể làm giảm thiểu ảnh hưởng tàn hại của chiến tranh và còn làm tăng tuổi thọ của người phóng sanh hay người mà họ hồi hướng công đức cho.

Lama Sang nói rằng đời này Ngài đã phát nguyện sẽ phóng sanh 100 triệu sinh vật nhằm hồi hướng công đức này đến giúp cho tất cả nhân loại và chúng sinh các cõi giới khác trong thời Mạt Pháp. Xúc động vì lòng từ bi vĩ đại của Thầy và để hỗ trợ cho ý nguyện cao cả của Ngài được thành tựu mau chóng, nhiều môn đồ đã phát nguyện làm theo và liên tục thực hành pháp phóng sinh.

Bất cứ mùa giảng pháp nào, Ngài cũng yêu cầu thực hành nhiều lễ phóng sanh ở các địa phương nơi Ngài dạy Pháp. Sau cơn bạo bệnh của Lama Sang năm 2004, các môn đồ của Ngài nỗ lực thực hành pháp phóng sanh, trước để cầu Ngài trụ thế dài lâu hầu dẫn dắt chúng sanh; sau là cầu nguyện các tà lực đang hoành hành giảm thiểu tác hại. Cho đến nay, phóng sinh vẫn được xem là một phần chính trong chương trình tổ chức các buổi giảng Pháp thuộc dòng truyền thừa trực tiếp của Lama Sang…

Nhờ công đức dạy dỗ của Ngài, biết bao loài sinh vật đã được cứu mạng, biết bao người được khỏi phạm vào nghiệp sát. Ác nghiệp được tránh, thiện nghiệp được gieo trồng; Ngài đã gieo hạt giống bồ đề vào tâm biết bao sinh linh; chủng tử này mãi sinh trưởng và phát triển, mang lại phúc lợi cho chúng sanh không thể nghĩ bàn.

Để cứu độ và tạo phước duyên cho những chúng sanh mang tâm cao ngạo, ngoan cố, khó điều phục, việc hoằng pháp của Đại Sư được thể hiện qua những phong cách khác thường, môn đồ và tín hữu các nơi thường gọi Ngài là “Vị Bồ Tát với hành vi không thể nghĩ bàn” hoặc “Tế Điên Đại Sư thế kỷ 21”.

Qua Ngài, người ta có thể chiêm nghiệm, thẩm thấu được lời dạy sâu sắc của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Kinh Duy Ma Cật, chương 6 phẩm Bất khả tư nghì, với phong độ phiêu hốt, bằng phương tiện trí huệ của Bồ Tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghì, các hành năng của Ngài đôi lúc rất khác thường nhưng đều nhằm để giáo hoá, làm lợi ích cho chúng sinh, chẳng chút dư thừa.

Hiện Thân Kim Cang Phẫn Nộ

Các môn đồ thân cận thường kinh nghiệm được điều này. Đại Sư không ngừng hoằng pháp cứu độ trong mọi thời khắc hoàn cảnh. Tới địa phương nào, Ngài thường ra lệnh các môn đồ đưa đi mua sắm. Vào tiệm nào Ngài cũng tìm một người để gây gổ và có khi đánh cả họ. Điểm đặc biệt là không bao giờ những người bị la mắng hay đánh vào tay, chân lại phản ứng hay tỏ bất mãn lại Ngài. Vừa quay sang mắng người bán hàng rầm rĩ, Ngài đã quay lại nhìn các học trò đi theo đang rất ái ngại, và nở nụ cười thản nhiên như xem đó là một trò đùa. Sau nhiều lần các môn đồ mới hiểu được rằng từng hành năng thuận nghịch của Ngài cũng để tạo quan hệ với kẻ hữu duyên cầu Ngài có thể độ cho họ.

Có lần một nữ bạn đạo đến gần để cúng dường vật gì đó cho Lama Sang, chợt Ngài vung tay đánh mạnh vào đầu và chửi mắng lớn bằng tiếng Tây Tạng. Chị này cùng đại chúng đều sợ hãi, không hiểu vì lý do gì. Sau đó Ngài quay sang tiếp tục giảng Pháp bình thường, coi như đã quên việc xảy ra. Suốt ngày hôm đó, tôi rất bồn chồn, lo lắng vì ái ngại cho chị bạn này nhưng không dám hỏi, phải chờ đến chiều khi hầu cơm Ngài mới nhờ vị thông dịch giúp hỏi Ngài chi tiết. Lama Sang ôn tồn dạy rằng Ngài không đánh mắng người học trò đó mà Ngài đã cứu chị. Theo Lama Sang, vì nghiệp lực đời trước và sự yếu đuối của mình, chị đang bị con ma dục vọng, đố kỵ và cao ngạo xâm nhập, Ngài đã thị hiện Kim Cang Lực Sĩ đánh đuổi, hàng phục con ma này cho chị. Sau này, quả là do lòng thành và ý nguyện thanh tịnh tu Pháp, hiện chị đã là một hành giả tu tập nghiêm chỉnh và làm nhiều công đức hỗ trợ việc đạo, xiển dương giáo Pháp.

Một lần vào cuối năm 2004, tại Berkley, California, Ngài dẫn một số môn đồ thân thiết vào một tiệm bán chim. Qua đoạn nói về tiền thân của Ngài đã từng là chim thì chúng ta có thể hiểu được lòng yêu mến của Ngài với loài chim. Trong khi đang đứng chọn mua một số chim con để tặng cho các đệ tử thân thiết, khi người bán hàng đang quỳ xuống đất để bắt và chuyển những con chim từ lồng lớn ở tiệm vào lồng nhỏ để chúng tôi mang về, đột nhiên Ngài đổi nét mặt giận dữ, đập mạnh lên đầu người bán chim. Trong lúc Alberto, Peter, có mặt đang sửng sốt thì đột ngột người Mỹ này đứng lên chắp tay và cúi đầu xin lỗi Ngài. Không nói một lời, Ngài lẳng lặng quay đi. Đến lúc trả tiền, người bị đánh mới hỏi chúng tôi phải chăng Ngài là vị Lạt Ma cao cấp của Tây Tạng.

Trong cơn ngạc nhiên của chúng tôi, anh này cho biết anh là một Yogi đã nhiều năm tu tập tên là Boddhi, đã từng theo học nhiều nơi, nhiều thầy, nhưng tu mãi vẫn không thấy tiến. Anh tin rằng do nhân duyên tốt đời trước anh được gặp Ngài, và cú đánh trên đầu này là cái đập kim cang trí huệ của bậc đại giác với lòng từ bi đã đập vỡ vô minh, cao ngạo để hướng dẫn anh về trí huệ bổn nguyên của tính giác. Sau đó anh xin địa chỉ liên lạc để được tiếp tục theo học cùng Ngài.

Quyên Góp Mạnh Mẽ Để Giáo Hoá Và Giải Nạn Cho Người Khác

Bằng trí huệ ngời sáng, Ngài thường cảm nhận được linh kiến về các sự việc sắp tới của người đối diện; nên những gì Ngài dạy bảo đều hàm chứa một thông điệp bí mật cùng phương thức giải quyết từ lòng từ bi vô lượng và sự cứu độ. Ngài thường khích lệ môn đồ đóng góp, cúng dường tài chính mạnh mẽ để giúp họ có cơ hội tạo phước báu, hầu giải nghiệp đời này, hoặc tạo công đức đời sau. Thường tự chế diễu mình là kẻ hành khất lớn (Big Beggar), Ngài thị hiện giáo hoá môn đồ thực hiện đức khiêm cung và xả mình thực hành pháp cúng dường, bố thí.

Mới đây, khi đang hướng dẫn đệ tử thực hành phóng sanh tại bờ biển Berkley, Ngài đột nhiên gọi một đệ tử thân cận và bảo phải cúng dường ngay một số tịnh tài tại chỗ. Số tiền không nhỏ, và ngay tại bờ biển nên vị này làm sao chuẩn bị nổi. Nhưng do lòng thành và sự tin tưởng tuyệt đối vào Minh Sư của mình, vị này quay ra mượn bạn bè chung quanh. Kỳ diệu thay, cuối cùng số tiền vay được cộng với số tiền còn lại trong ví lại ra đúng số Ngài đã hỏi.

Sau khi Tôn Giả trở lại Tây Tạng, vị này đi khám bệnh và được biết mình có bướu độc phải giải phẫu. Gia đình gọi qua Tây Tạng thỉnh ý Ngài và được phán rằng vị cư sĩ này sẽ bình yên vì nghiệp xấu này đã được hoá giải qua hành năng và thiện ý trước đó của họ cùng sự gia trì trực tiếp của Tôn Giả.

Tiên Tri Của Chính Ngài

Ngài thường có linh kiến về những vấn đề của thế giới hay cả những việc xảy ra trong đời sống cá nhân của các môn đồ. Cách đây hơn mười năm, Ngài đã từng tiên tri về những thiên tai, thảm họa lớn và cuộc chiến hiện nay của Thế giới vào đầu thế kỷ 21 này.

Tiên tri của Ngài về biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại World Trade Center New York, cùng cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Taliban, Iraq cũng như một số biến động quan trọng về nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới đã được các đệ tử thân cận của Ngài ghi lại và cất giữ tại nhiều trung tâm trước khi sự việc xảy ra.

Tháng 4, năm 2002, khi đang ở tại Hungkar Ling ở Okland, California, Mỹ quốc, trưởng trung tâm là chị Sheila Sabine bật truyền hình lên tình cờ gặp tin tức khi đó đang nói về cuộc chiến giữa Mỹ và AlQuida tại Afghanistan. Con số binh sỹ Mỹ tử thương đã gần một trăm người, mọi người có mặt ở đó đều buồn và ngao ngán vì sự tàn phá đôi bên của chiến tranh.

Jampal Drolma khi đó đang ngồi bên chân Ngài chợt hỏi Lama Sang thấy kết quả tương lai của cuộc chiến này sẽ ra sao? Suy tư vài phút, Ngài nói nước Mỹ sẽ còn phải trải qua hàng chục năm chiến tranh và suy thoái nữa. Kinh tế sẽ suy sụp đột ngột… Thế giới sẽ thay đổi cách tổ chức nhưng sẽ không có hòa bình. Rất nhiều người sẽ không có nhà ở, cơm ăn, áo mặc. Chết chóc, thảm họa sẽ xảy ra khắp nơi trên thế giới qua nhiều hình thức khác nhau, không chỉ do chiến tranh mà còn do thiên tai, hoặc tai nạn do con người làm ra với hậu quả rất thảm khốc làm thiệt mạng nhiều người; đó là bởi nghiệp lực mà con người đã tạo ra trước đây nay đã chín mùi…

Ngày 16 tháng 10, năm 2004 sau khi ban lễ quán đảnh Vajrakilaya tại Hungkar Ling, Oakland, Ngài đã tiết lộ tiên tri về thảm họa hồng thủy sắp tới tại miền Trung nước Mỹ (Lama Sang chỉ tay vào phần này trong bản đồ. Khi ấy chúng tôi cứ nghĩ rằng khủng bố sẽ tấn công vào NASA tại Houston). Ngài chỉ thị cho môn đồ phải chuyên cần, nỗ lực tu trì Pháp môn Vajrkilaya trong thời đại dữ dội này để hộ thân và hộ trì cho thế giới.

Ngày 23, tháng 8, năm 2005, nạn lụt Katrina tại Trung Mỹ xảy ra làm thiệt mạng gần hai ngàn người, sự thiệt hại vật chất lên đến hàng tỷ đồng cho đến ngày hôm nay cũng chưa phục hồi được.

Những lời tiên tri của Ngài dần dần thành hiện thực. Tác hại của thời Mạt Pháp càng lúc càng gia tăng.

Trong một lần nói chuyện với các đệ tử Mỹ tại Bắc California, Mỹ quốc, năm 2003, Ngài đã cho biết rằng đúng ra với chuyển vận của trái đất hiện nay, do nghiệp lực của chúng sinh thì tiểu bang California có thể phải trải qua đại họa động đất với thiệt hại rất nặng và bị chia cắt ra thành nhiều phần. Nhưng nhờ lòng từ bi, sự gia trì của Tam Bảo, sự giúp đỡ của các Bồ Tát như đã nói ở trên cùng lòng thành tu pháp của Phật tử với nhiều công đức khác đã và đang được thực hiện nên các Hộ Pháp Kim Cang đã trấn giữ và giảm thiểu sự tác hại rất nhiều phần…

Thầy Hungkar Dorje thường bảo những lời nói của Ngài có thần lực và thường mang theo một thông điệp bí ẩn mà chỉ khi đến đúng thời điểm thì kẻ nhận được thông điệp này mới hiểu được ý nghĩa. Ngài không chỉ tiên tri và có linh kiến về thế giới mà còn nhìn sâu sắc về cả việc của tu viện hay của từng đời sống cá nhân người thân cũng như các môn đồ từ đạo lẫn đời. Mỗi ngày luôn có hàng trăm người chờ đợi đến phiên để được gặp và xin Lama Sang hướng dẫn hay giải đáp cho thắc mắc của riêng mình.

Ngài rất ưu ái với các môn đồ trung thành, thân cận. Từ hai năm trước khi Ngài nhập Niết Bàn, Lama Sang ra lệnh cho gọi hoặc tìm những người này đến gặp Ngài riêng. Ai cũng được Ngài ân cần, thân thương ban cho lời khuyên bảo và hướng đi tương lai để có được kết quả tốt đẹp hơn về cả mặt tu hành đạo lẫn đời sống hàng ngày. Những lời Vàng của Ngài đã cứu độ, thay đổi định mệnh, tương lai của biết bao người, biết bao gia đình. Chỉ cần một lời khen, tiếng chê của Ân Sư là cũng đủ quyết định hướng đi, cuộc đời của các môn đồ.

Công Trình

Nói đến sự huyền diệu và gia trì nhiệm mầu của Ngài thì không thể có bút mực nào tả xiết. Đúng lời tiên tri của các chư Tổ mấy trăm năm trước về các hành năng giác ngộ của Ngài. Năm 1984, nhân chính sách rộng mở của chính quyền Trung Quốc sau vụ Tứ Nhân Bang; Ngài đã xây dựng tu viện tại Golok để giới thiệu, hướng dẫn tu tập chân lý của Như Lai. Trước đó, Tu viện này chỉ được trong lều trại và không cố định, hệt như đời sống người du mục.

Đất của tu viện này trước đó thuộc về một tu viện Phật giáo khác, cũng trong thời còn lều trại. Tuy nhiên các Lạt ma, tăng sĩ tại đây luôn bị các quỷ ma quấy phá dữ dội gây ra bệnh tật, tai nạn và nhiều điều không tốt lành, sự tác hại rất nặng nề. Họ đã thực hành nhiều phương thức và đàn pháp nhưng vẫn không dẹp được các loài quỷ ma này. Đây là loài quỷ rất dữ dội và nhiều năng lực do nghiệp lực nguyên thủy chuyên khuấy phá các hành giả tu Mật Bộ Kim Cang. Sau cùng, có người mách rằng theo Kinh sách và lời Vàng của Phật thì chỉ có Kim Cang Bí Mật Chủ Vajrapani mới trị được loài quỷ này. Khi họ đến thỉnh Lama Sang, lúc đó Ngài vừa ở tù ra; Lama Sang đã đưa điều kiện rằng nếu Ngài đánh đuổi và hàng phục được loài quỷ dữ này thì tu viện đó phải rời đi cho Ngài cắm lều trại xây dựng tu viện của Ngài. Đã quá mệt mỏi và chán nản với sự khuấy phá của loài quỷ dữ, tu viện này bằng lòng với điều kiện này. Ngài lập tức thiết lập đàn pháp, thị hiện thân Đại Hùng Lực Hàng Phục Vương Vajrakilaya trấn áp, điều phục loài quỷ dữ, bắt họ thay vì khuấy phá thì từ đó trở đi phải hết lòng hỗ trợ, hộ trì cho các hành giả tu Mật Pháp Kim Cang.

Lịch sử từ ngàn năm trước đã được lặp lại. Nếu từ ngàn xưa Đức Liên Hoa Sanh đã bằng Kim Cang Mật Pháp trị loài quỷ dữ để xây dựng chùa Samye đầu tiên tại Tây Tạng; thì ngày nay Hóa Thân của một trong những môn đồ tâm yếu của Ngài, Tôn Giả Kusum cũng làm như vậy.

Biết trước thế giới sẽ đi vào thời điểm đầy gian nan, khổ nạn, Ngài đã vận động các Phật tử và môn đồ trên khắp thế giới để xây dựng Đại Bảo Tháp tại Linh Địa Golok nơi được mệnh danh là mái nhà của thế giới “Roof top of the world”.

Vào năm 2000, Đại Bảo Tháp đã được hình thành theo đúng nghi thức của đàn pháp Kim Cang nhằm trấn áp bớt các lực tà ác hoành hành, và để mang thêm phúc lợi đến cho mọi sinh linh ở hành tinh địa cầu này. Bảo tháp này được xem như lớn nhất hiện nay trên thế giới.

Sau đó, Ngài tiếp tục thực hiện nhiều bảo tháp khác cùng trong khu vực như bảo tháp phỏng theo mô hình Bồ Đề Đạo Tràng, Bảo tháp Milarepa và Bảo tháp Phật Thích Ca Mâu Ni.

Với nhân duyên nhiệm mầu từ tiền kiếp, Ngài đã thực hiện xây dựng chùa Samye tại Golok phỏng đúng theo quy cách của tu viện Samye cổ, tức tu viện đầu tiên của Tây Tạng với Mạn Đà La vũ trụ của Guru Rinpoche, tức Liên Hoa Sanh Đại Sĩ, Tôn Sư của dòng Cổ Mật, người được dân Tây Tạng gọi là vị Phật thứ hai của thời Hiền Kiếp. Được hỏi tại sao lại thực hiện nhiều công trình xây dựng chùa, tháp như vậy, Ngài đã nhân cơ hội này giảng dạy về lợi ích cho nhân loại khi bảo tháp được thực hiện đúng theo quy cách và mật chỉ Kim Cang, cùng phước báu nhiều đời cho kẻ góp công xây tháp, người lễ lạy tháp cũng như kẻ gián tiếp được lợi ích qua lực gia trì của chư Phật, chư Bồ Tát và hàng Thiện Thần hộ trì tháp báu.

Đó là giải thích tổng quát, còn về mật nghĩa, Ngài dạy rằng hiện chúng sinh đang ở trong thời Mạt Pháp khi các tà lực hoành hành tạo nhiều chướng ngại, khổ đau, các hóa thân Phật, Đại Bồ Tát ở khắp muôn phương đã, đang và sẽ tiếp tục dùng Mật pháp thực hiện nhiều phương thức, hình thức nhằm giảm thiểu sự tác hại của tà lực. Bảo Tháp, đàn tràng, chùa, trung tâm thiền… cùng các phương tiện thiện xảo khác được các vị Bồ Tát này nỗ lực thực hiện đúng theo quy cách và Mật Pháp Kim Cang sẽ có tác dụng mạnh mẽ, trực tiếp để giúp cho nhân loại và chúng sinh các cõi khác về mọi mặt.

Trên khắp thế giới, biết bao nhiêu trung tâm Vajrakilaya đã được Ngài đặt tên và ban phước thành lập. Theo truyền thuyết, trong đời này Ngài sẽ thực hiện 108 Trung Tâm Vajrakilaya, phước báu này sẽ giúp cho Phật Pháp nở rộ thêm cùng thế gian.

Trong quá trình sinh hoạt hoằng pháp cứu nhân độ thế của Ngài, người ta đã chứng kiến biết bao nhiêu kết quả nhiệm màu qua pháp lực siêu việt và lòng từ bi tha thiết của Ngài.

Như ngón tay chỉ xuống mặt đất của Đức Phật Thích Ca khi trả lời Ma Vương: “Trái Đất là chứng minh cho kết quả chân lý của Phật Pháp”, chứng tích và kết quả của công trình vĩ đại nhất mà Ngài đã để lại cho thế giới được biểu hiện linh thiêng, sống động, chân thực nhất qua các đệ tử do Ngài đã truyền dạy.

Môn đồ của Ngài có mặt ở tất cả mọi góc cạnh của xã hội. Không chỉ riêng hàng chục ngàn tăng sĩ, hành giả du già nam, nữ thuộc mọi cấp độ tu tập từ những danh sư Phật giáo, các vị Hóa thân cao cấp là những người bởi năng lực cùng thiện duyên đời trước dễ dàng có được cơ hội học Pháp; Qua phương tiện thiện xảo của Trí Huệ Giác Ngộ siêu việt và Lòng Từ Bi vô lượng mà Ngài đã điều phục được cả những thành phần khó điều phục nhất trong xã hội.

Đủ mọi thành phần, thể loại: Từ thầy bùa ngải của tà đạo, chính khách hàng đầu của quốc tế, những nhà trí thức cang cường, ngạo mạn, những nhà triệu phú đang mờ mịt trong bão tố vật chất, những người nội trợ hiền hòa chỉ biết niệm A Di Đà Phật (Namo Amitabha), những người hư hỏng, tội lỗi bị xã hội ruồng bỏ, coi thường, những người đến từ các tôn giáo khác, kẻ cùng khổ không nhà và nhất là hàng tăng thượng mạn đã từng vọng kiến, vọng ngữ cho rằng mình là thanh tịnh coi thường giáo pháp Kim Cang Tối Thượng Thừa của chư Phật v.v… cũng được Ngài điều phục rồi được hướng dẫn, gia trì để quay về Chánh Pháp, sống đời an lạc trong chánh kiến.

Chính người viết là nhân chứng của bao sự việc, trong đó có cả việc Ngài cứu người ra khỏi ngục tù và độ cho những kẻ trước đây thường theo tà kiến, làm những việc bất thiện, hại người, nay bỏ sai lầm, tập làm việc thiện và sống theo Chánh Pháp.

Ngài không ngừng truyền pháp Quán Đảnh, giảng dạy giáo lý Kim Cang Thừa cho hàng trăm tín đồ tại gia cũng như xuất gia và các hành giả Kim Cang Thừa ở khắp nơi trên thế giới. Giáo lý Tối Thượng Thừa Dzogchen của pháp thiền Đại Viên Mãn cũng được Ngài mật truyền cho những hành giả có đủ phước duyên và căn cơ ưu việt, trong đó có nhiều đại danh sư hoặc hóa thân thuộc các dòng phái Phật giáo khác. Số hành giả thượng thừa này thuộc đủ mọi tầng lớp, quá trình tu tập, từ các yogi, yogini, tu sĩ, các ngakpa (hành giả mật thừa Kim Cang cao cấp theo hạnh cư sĩ tại gia), người giàu có, kẻ khất thực hoặc một số vị hiện đang lãnh đạo các tu viện, thiền viện ở nhiều quốc gia khác nhau. Mỗi người mỗi việc, mỗi sứ mạng khác nhau tùy theo nhân duyên và nguyện vọng của mình nhưng hầu hết các môn đồ của Ngài đều thường xuyên nỗ lực hành trì, phát triển, mở rộng Phật sự, xiển dương Phật Pháp Kim Cang Thừa.

Nơi các Kim Cang hành giả này, ngọn đuốc rạng rỡ của dòng truyền thừa trí tuệ ưu việt Dzogchen Đại Viên Mãn và hùng lực bất thoái của Kim Cang Bí Mật Chủ Vajrapani trong thân tướng Đại Hùng Hàng Phục Vương Vajrakilaya đã được gìn giữ, ứng dụng và triển khai khắp nơi, mang lại bao phúc lợi vật chất cụ thể cũng như siêu hình không chỉ cho nhân loại mà còn cả cho chúng sinh ở các cõi giới khác.

Dòng Tộc của các Đấng Pháp Vương cao quý

Sau bao chuỗi Hóa thân cao quý trên cõi đất bằng hiện thân của nhiều Thành Tựu Giả Phật Giáo, Thánh Vương Du Già, Đại Thánh Tăng chứng ngộ, Ngài trở lại trong kiếp này qua sự kết tụ tinh quang của Chân Như Giác Ngộ, và để lại dòng truyền thừa bằng hạt giống siêu phàm, thanh tịnh của các Đấng Đại Giác.

Như đã nói ở trên, Ngài thuộc dòng tộc Waxi của những vị Thánh Vương Phật Giáo. Thân phụ Ngài là hành giả du già lừng lẫy ở Golog với pháp Chod nhiệm màu. Trưởng lão Lhundrup Gyamtso đã qua đời khi Ngài mới lên ba; thân mẫu Ngài là nữ hành giả du già chứng đắc Padma Lhamso. Chú ruột của Ngài cũng là một giảng sư học giả lừng danh với kiến thức Phật học thâm sâu, với trí nhớ siêu tuyệt cùng biệt tài là bất cứ câu nói hay lời giảng nào là vị này đều có thể diễn đạt ngay lập tức bằng thơ hoặc những lời ca trầm bổng, du dương mà không cần phải suy nghĩ.

Khi còn trẻ, Lama Sang có trưởng nam tên là Nyima Gyal, vị này hiện là một Lạt Ma tại tu viện Sang Lung ở gần tu viện của Lama Sang, cách đó mấy tiếng đồng hồ đi xe hơi nhưng cũng trong vùng núi Golog. Nyima Gyal rất nổi tiếng tại Golog là vị Lạt Ma Chưởng Giáo Nghi Lễ của dòng

Kim Cang Cổ Mật

Vị phối ngẫu của Ngài cũng đến từ dòng tộc Kim Cang cao quý, tên gọi là Dug Kar Drolma. Anh trai của Bà là Đại Hòa Thượng tôn kính, vị Hóa thân Garwang Nyima và là Chưởng Môn Trụ Trì tu viện Tartang lừng lẫy tại Golog. Tu viện Tartang đã có từ lâu đời, Tartang Tulku nổi tiếng tại Berkley, Mỹ Quốc chính là một tăng sĩ đến từ tu viện của Ngài Garwang Nyima.

Sanh cùng thời với nhau, ngài Garwang Nyima và Lama Sang là hai bậc thượng thủ kiệt xuất của Phật giáo Kim Cang Thừa. Một bên là Đại Sư Trụ Trì với giới luật nghiêm mật của tăng sĩ, bên kia là Trưởng Lão Du Già tiêu dao, phóng khoáng. Cả hai vị cũng là Thiền Giả chứng đắc của dòng thiền Đại Viên Mãn Dzogchen. Hai người đều rất kính trọng, quý mến nhau! Chính ngài Garwang Nyima Rinpoche đã đến thăm Lama Sang trong những giờ phút cuối trước khi Ngài xả thân tứ đại, nhập vào thiền định. Và cũng chính ngài Garwang Nyima Rinpoche đã chủ trì lễ cầu nguyện sau bảy ngày để thỉnh Ngài rời thiền định về Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ. Dân chúng Golog xem các Ngài như hai Bậc Thủ Hộ linh thiêng, những đấng Sư Tử Hộ Pháp Vương của vùng thung lũng xanh đã đến hộ trì cho dân Tây Tạng.

Đức phối ngẫu Dug Kar Drolma của Lama Sang là một hành giả Phật giáo gương mẫu, hóa thân của Dakini từ bi. Bà rất chuyên cần tu tập, lúc nào tay cũng lần chuỗi hạt hành trì trì tụng hoặc lầm thầm tụng chú khi đang làm bất cứ việc gì. Ở Bà là tấm gương sáng của lòng từ bi, đức khiêm cung và sự độ lượng. Khi tu viện được chỉnh trang, các gian nhà cũ bằng đất lụp xụp không cản được gió đông được thay thế bằng những ngôi nhà khang trang, được xây cất theo kỹ thuật và vật liệu hiện đại với nhiều tiện nghi hơn, mọi người bàn chuyện xây lại nhà cho Bà. Nhưng cũng như người chị gái của Lama Sang – thân mẫu Ngài Sungtul Rinpoche, Bà nhất định không chịu, lấy cớ sợ tốn kém và không thích hợp. Bà đã quen lối sống giản dị, khiêm tốn như thế này rồi và rất hoan hỷ không có đòi hỏi nào khác hơn. Cho đến hôm nay, Bà vẫn sống trong ngôi nhà đất ấy bên ngoài tu viện, gần phòng ăn lớn dành cho khách thập phương ở xa về, để Bà tiện bề phụ việc bếp núc, đãi đằng.

Tấm lòng của Bà vô cùng rộng lượng, nhiệt tình và hiếu khách. Nụ cười không bao giờ thiếu vắng trên môi Bà kể cả khi Bà đang bị bệnh phong thấp hành hạ, đau nhức. Gần như lúc nào Bà cũng luôn sẵn sàng cho người khác bất cứ món gì của Bà nếu được yêu cầu. Bạn khó lòng có thể bước vào cửa nhà của Bà mà lại từ chối không ăn, hay uống một món gì.

Ngay cả chiếc giường nhỏ của Bà cũng thường được ân cần mời và nhường cho khách. Vì Bà tử tế và đầy tình thương như vậy, dân chúng trong vùng và các môn đồ, tăng sĩ đều gọi Bà là Amala (Mẹ ơi!)

Từ hội tụ nhân duyên chín mùi, dòng truyền thừa cao quý ấy của Lama Sang đã có thêm 4 người con, hai trai và hai gái với Bà.

Cũng như mẹ của mình, hai người con gái rất khiêm tốn sống cuộc đời bình dị, chỉ tập trung làm việc, lo cho gia đình và tu tập. Tuy vậy, hai người chồng của họ là những hộ pháp đắc lực và quan trọng của tu viện. Người con rể thứ nhất là Chonyid Jamtso, người con rể thứ hai là Gurgon. Cả hai đều xả thân lo đảm trách công việc xây dựng, tổ chức ở tu viện. Họ chưa hề được học khóa đào tạo quản lý nào mà tổ chức của tu viện lúc nào cũng suôn xẻ kể cả trong lúc có lễ hội hàng ngàn người từ xa về phải lo đưa đón, ăn ở lẫn y tế. Bận rộn như vậy nhưng lúc nào họ cũng tỏ ra rất hoan hỷ, an lạc. Họ làm việc suốt ngày đêm và thường không được ăn cơm đúng bữa nhưng họ chẳng bao giờ than vãn, mà lúc nào cũng tươi cười hoặc luôn luôn đọc tụng các bài kệ Pháp theo các vần điệu du dương như âm nhạc. Chúng tôi thường đùa gọi Gurgon là bộ trưởng nội vụ vì anh luôn để ý, lo lắng cho mọi người mà không bao giờ để ai thiếu thốn hay phật ý cả.

Tinh Túy Truyền Thừa Cao Quý Của Các Dòng Nội, Ngoại – Kết Tụ và Cô Đọng ở Hai Thứ Nam của Lama Sang

Kế thừa chính thức của Lama Sang là Thầy Hungkar Dorje. Như đã nói qua ở trên, từ năm 1994, Thầy đã là Trụ Trì Tu Viện Lung Ngon Thubten Chokhorling tại Golog do Lama Sang thành lập trước đây.

Thầy Hungkar Dorje là vị Hóa Thân trực tiếp của Đại Thánh Sư Phật Giáo Do Khyentse, Vua Pháp Trisong Deutsen, Hóa Thân Trí Huệ Văn Thù, Hóa Thân về Tâm của Tổ Jigme Lingpa v.v… Hiện Thầy là chủ biên tờ tập san Phật giáo Gesar xứ Ling (một Hóa thân của Đức Liên Hoa Sanh tại Tây Tạng) của Qinghai (Thanh Hải) và là Chủ Tịch sáng lập hội thiện nguyện Mayul Gesar Foundation. Hội này đã thực hiện nhiều chương trình từ thiện, xã hội mang phúc lợi cho nhân dân Trung Quốc và Tây Tạng. Thầy là vị Đạo Sư không bộ phái, đã thực hiện rất nhiều công trình Phật giáo lớn lao từ xây dựng chùa, ni viện, bảo tháp, nhà tăng sĩ, phát hành ấn tống Kinh, Luận… đến tổ chức trường Phật học đào tạo tăng tài v.v… Lãnh đạo và môn đồ các tôn phái khác rất tôn trọng Thầy và thường thỉnh Thầy thuyết giảng. Số người theo học Thầy thuộc nhiều quốc gia khác nhau, hiện nay đã hơn cả triệu người và sẽ còn phát triển thêm trong tương lai.

Là Hóa Thân Trí Huệ Văn Thù, Thầy Hungkar Dorje rất lỗi lạc về thi phú, văn chương và hội họa. Thầy đã trước tác nhiều bài nguyện, bài kệ, bài tán thán công đức với văn phong sâu sắc mà thanh thoát qua các thể thơ khó làm nhất. Diệu ngữ của Thầy được tán tụng và hâm mộ khắp Tây Tạng, Trung Quốc. Những bài kệ, bài tụng và tán văn này hiện đang được cả bốn dòng Kim Cang Thừa Phật Giáo Tây Tạng cùng sử dụng và đọc tụng.

Con trai út của Lama Sang là Vị Hóa Thân Dorje Trangpo. Ngài là một Lạt Ma rất thân thiện và luôn hỗ trợ công việc hoằng pháp của Lama Sang với các môn đồ ở hải ngoại. Dù là Hóa thân cao cấp của một hành giả Kim Cang đã chứng đắc thân ánh sáng ở tiền kiếp nhưng Thầy Dorje Trangpo lại vô cùng khiêm tốn và giản dị. Tuy đã thọ học với các Đại Thánh Giả Phật Giáo và được trao truyền toàn bộ tinh yếu của Nyingthig Yabshi và Longchen Nyingthig, Thầy luôn xem mình là kẻ sơ tu, theo hạnh khiêm tốn và dùng pháp tu Bồ Đề Tâm làm nền tảng cho cơ sở tu hành của riêng mình.

Thầy Dorje Trangpo có vợ là người Nhật, cô Satomi là vị nữ Bồ Tát chân chính, luôn luôn hy sinh bản thân mình để giúp đỡ và làm lợi ích cho người khác. Lịch sử và liên hệ nhân duyên của Thầy Dorje Trangpo và Satomi là câu chuyện vô cùng ý nghĩa và xúc động. Cả hai người, Thầy Dorje Trangpo và Satomi đã đóng góp vô vàn công đức cho việc hoằng pháp của tu viện, đặc biệt là cho các môn đồ của Lama Sang ở nước ngoài.

Hiện Thầy Dorje Trangpo đang phụ trách hoàn tất xây bảo tháp gần ni viện, điều hành trường Yogi của tu viện và thực hiện tổ chức thư lục, lưu trữ các Mật tạng do Lama Sang khai mật.


NHỮNG NĂM SAU CÙNG

Phát Bệnh, Thị Hiện Thần Thông – Cứu Độ Sinh Linh Trong Cõi Khác

Như đã nêu nói ở trên, Lama Sang làm việc không ngừng nghỉ mà không hề bận tâm đến bản thân mình. Với thời gian, thân tứ đại của Ngài dần mỏi mệt. Ngài thường nhắc nhở môn đồ về lẽ vô thường của biệt ly, sinh tử và căn dặn học trò nỗ lực thực hành Pháp vì thời Mạt Pháp rất khắc nghiệt, khi tà lực hoành hành mà Thầy không còn tại thế nữa thì chỉ có Tam Bảo và năng lực tu tập của bản thân mới bảo vệ được cho mình mà thôi.

Cuối năm 2004, ngay vào lúc thế giới trải qua thảm họa Đại Hồng Thủy của Tsunami Ấn Độ Dương như Đức Phật Thích Ca đã từng tiên tri từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước; Lama Sang trở bệnh và đi vào trạng thái gần như hôn mê hơn năm ngày trước khi được đưa vào bệnh viện ở cách tu viện một ngày đường. Đối với một số người, đây là điều khó hiểu và cũng là đề tài cho nhiều người thảo luận để cố tìm ra giải đáp. Hiện tượng của Lama Sang trong thời gian năm ngày đó rất đặc biệt, Ngài như nửa hôn mê, nửa ở trong thiền định. Trước đó Ngài đã bác bỏ mọi lời yêu cầu của tu viện xin đưa Ngài vào bệnh viện và căn dặn không được làm phiền đến Ngài. Cho đến khi sang ngày thứ năm, hơi thở Ngài còn rất mong manh. Với điều kiện của một người thông thường thì thật vô cùng nguy hiểm; tất cả gia đình, tăng sĩ, yogi của tu viện đều lo sợ nhưng cũng không ai dám cãi lời Ngài.

Khi ấy, Thầy Hungkar Dorje, thứ nam của Lama Sang và cũng là đương kim Trụ Trì Tu Viện đang nhập thất trên núi tuyết tại đỉnh cao nhất của dãy Hy Mã Lạp Sơn, trong hang động nơi Đấng Toàn Giác Longchenpa đã từng tu tập. Phải leo thang dây, trải qua bao nhiêu hiểm trở mới lên được hang động này, điện thoại không thể sử dụng được. Thầy đã nhập thất sang ngày thứ tư thì tu viện Golog phải dùng nhiều cách để liên lạc thông tin về tình trạng của Lama Sang cho Thầy, vì chỉ có Thầy mới đủ thẩm quyền và trách nhiệm quyết định giải pháp chữa bệnh cho Lama Sang.

Sau khi nhận được tin, Thầy quyết định bỏ dở cuộc nhập thất đặc biệt này và lập tức trở về tu viện. Ngay sau khi trở về, Thầy Hungkar đã họp các Lạt Ma, Yogi lãnh đạo của tu viện và khẩn cấp xin hướng dẫn cùng chỉ thị của Đại Thánh Giả, Sư Tổ Do Drupchen Đệ Tứ lúc đó đang ngự tại tu viện của Ngài ở đầu bên kia tiểu bang Golog. Đức Do Drupchen Đệ Tứ là Thánh Tổ lừng danh của Phật giáo Kim Cang Thừa hiện đại, Sư Tổ là một trong những Đạo Sư đã truyền Pháp cho Lama Sang và cả Thầy Hungkar Dorje lẫn con trai út của Lama Sang là Hóa thân Dorje Trangpo. Sư Tổ Do Drupchen là vị Phật sống thực sự tại cõi đất này, Ngài đã chứng đắc Pháp thân Giác Ngộ trong một đời và thị hiện chứng đắc Vajrakilaya trong kỳ nhập thất vi diệu nhiều năm trước. Hiển lộ chứng đắc Phật Quả qua thân tướng và thần lực của Hùng Lực Phẫn Nộ Thánh Vương Vajrakilaya của Ngài được tất cả mọi dòng phái Kim Cang Thừa tán thán và quy ngưỡng. Khi nhận được điện thoại của Thầy Hungkar Dorje, Tổ Do Drupchen đồng ý cho đưa Lama Sang đến bệnh viện và cho biết Lama Sang chưa hết sứ mạng của mình trên cõi đất, Ngài sẽ còn tiếp tục công việc hoằng pháp của mình.

Khi đó Lama Sang đã sang ngày thứ sáu trong thiền định. Người Tây Tạng, đặc biệt là các hành giả Kim Cang không chấp nhận từ “hôn mê”, vì các hành giả, nhất là các Thánh Sư đều có khả năng làm chủ, điều phục tâm thức của mình, do đó chúng tôi sẽ dùng từ “thiền định”. Riêng trường hợp của Lama Sang, bậc thiền giả siêu việt của dòng thiền Dzogchen Đại Viên Mãn trong suốt sáu ngày đó luôn chứng minh rằng tuy đang ở đâu đó nơi cõi khác để thực hiện công việc và sứ mạng hoằng hóa riêng, nhưng Ngài luôn liên hệ với thế giới loài người trong trái đất này qua sợi tơ vàng lung linh của năng lực sống vẫn tồn tại trong hơi thở như có như không theo đúng quy cách của bậc Đại Giác Thiền Sư khi phân thân dạo chơi nơi cõi khác.

Khi nhập viện tại bệnh viện Chengdu, Ngài từ từ hồi tỉnh và tức khắc la mắng Thầy Hungkar cùng các thị giả và đòi về lại tu viện. Tuy nhiên điều kiện vật lý của cơ thể khiến mọi người quyết định để Ngài ở lại truyền nước biển và trị liệu thêm một thời gian ngắn. Lama Sang thị hiện phẫn nộ một lúc rồi chịu chấp nhận ở lại nhưng rất tỉnh táo với những người thân chung quanh. Phải hiểu rằng trong hoàn cảnh đó làm sao Ngài có được thông tin bên ngoài. Những chuyện kể của Lama Sang, nếu không có đạo học sẽ hiểu lầm là mộng tưởng, viển vông. Ngài kể lại chuyện Ngài rất bận rộn vì đã phải đi gặp thật nhiều người, họ đang đi lạc nên Ngài phải dẫn họ về nhà Phật A Di Đà. Ngài cho biết là họ khổ lắm, đau đớn lắm… thật là thương xót!

Trong lúc này, cả thế giới đang bàng hoàng vì tác hại sâu rộng của nạn Đại Hồng Thủy tại Ấn Độ Dương tàn phá, hủy diệt sinh mạng của cư dân thuộc 13 nước trên thế giới. Phải mất nhiều tháng những nhà cầm quyền các nước mới chính thức thống kê được con số thiệt mạng và mất tích.

Trong 10 ngày đầu tiên, con số thống kê lên từng ngày từ vài trăm đến vài ngàn rồi hơn 80 ngàn người mất tích và thiệt mạng; vậy mà Lama Sang đã kể chuyện là vì có mấy trăm ngàn người đau khổ, lạc đường do bởi nghiệp chúng sinh nên Ngài phải đến đó giúp đỡ cho họ nhưng vì nhiều người nghiệp lực sâu dày, ngoan cố nên Ngài không thể giúp tất cả được.

Lúc đầu mọi người thấy con số Ngài đưa ra không khớp. Nhưng hơn một năm sau, chính quyền các nước mới tổng kết và cùng thông báo con số thống kê chính thức là tới hơn 230 ngàn người chết và mất tích trong đại nạn hồng thủy nói trên. Đúng như lời Ngài kể lại trong trạng thái đặc biệt đó.

Phải chăng trong những ngày trên, Ngài đã ở cõi khác để hướng dẫn, tiếp dẫn các vong linh tử nạn trong cơn hoảng hốt để họ không bị quỷ dữ lôi xuống các cõi thấp…?

Từ bi thay…! Vĩ đại thay…! Huyền nhiệm thay…! Lòng từ bi và thương xót chúng sinh vô lượng của Đại Thánh Mật Chủ Kim Cang Thủ.

Cũng từ đó trở đi sức khỏe của Ngài càng ngày càng suy xụp, nhưng trái lại với điều này, Ngài lại nỗ lực hoằng Pháp hơn bao giờ hết.

Hoàn Tất Các Công Trình Xây Dựng Vĩ Đại, Chùa Samaye, Các Bảo Tháp

Ngài yên lặng chuẩn bị cho ngày ra đi của mình từ mấy năm về trước qua các chương trình giảng dạy, các đề án xây dựng rất vĩ đại, quy mô mà thoạt nghe không ai dám tin là ở một đỉnh núi tuyết cao vút, ngút ngàn như mái nhà của thế giới, phải mất 12 tiếng đồng hồ lái xe từ phi trường địa phương mới đến được thì làm sao một Vị Thiền Giả đang có bệnh như Ngài có thể thực hiện, nhất là thời gian Ngài đặt ra để hoàn tất rất ngắn ngủi.

Nhưng rồi tất cả đều thành công viên mãn đúng thời gian. Bao nhiêu Bảo Tháp, trung tâm Kim Cang đều được hoàn thành như đã nói ở phần trên; tất cả đều do nguyện lực thanh tịnh của hàng Đại Bồ Tát và do sự gia trì của Tam Bảo cùng sự hỗ trợ của các vị Hộ Pháp, Dakini, Nhân và Phi nhân.

Nỗ Lực Ban Truyền Pháp Bảo Trong Những Ngày Cuối

Từ năm 2005, do thỉnh cầu của môn đồ, Ngài ban thêm nhiều pháp Quán Đảnh cao cấp để tạo thiện duyên với Phật Pháp cho các môn đồ trong đời này cũng như các đời sau.

Bao năm qua Ngài đã truyền dạy rất nhiều bộ Mật Pháp Kim Cang nhưng các năm còn lại Ngài tập trung vào việc chuyên nhất dạy một số Bộ Pháp như:

– Ngondro (Pháp Tiên Yếu Dự Bị Thực Hành)

– Quán Âm Tứ Thủ

– Bardo (Thân Trung Ấm)

– Medicine Buddha (Đức Phật Dược Sư)

– Tara (Từ Bi Lục Độ Mẫu)

– Vajrapani (Kim Cang Bí Mật Chủ)

– Orgyen Jambhala (Pháp Như Ý Tài Bảo)

Và đặc biệt là:

– Acharya Padma hay Guru Yoga (Đạo Sư Du Già)

– Vajrakilaya (Đại Hùng Lực Phẫn Nộ Hàng Phục Vương)

Những Bộ Pháp trên, một số là Mật Tạng do Ngài khai mật, một số là bí truyền Kim Cang bộ pháp của dòng Phật Giáo Cổ Mật (Nyingma).

Theo Ngài, đây là những bộ pháp thích hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời Mạt Pháp và có sự gia trì mãnh liệt của chư Phật, chư Bồ Tát và chư Thánh Tổ của dòng phái. Những pháp tu này có công năng hiệu nghiệm cho hành giả tu tập không chỉ về tâm linh và riêng cho con đường tu học mà còn giúp cho hành giả tu trì có được phương tiện, đời sống đầy đủ, sung túc về vật chất, an lạc, hạnh phúc và giải trừ, giảm thiểu được nhiều chướng ngại trong đời sống hàng ngày.

Một số môn đồ đã thuận duyên được Ngài hướng dẫn tu thiền Đại Viên Mãn Dzogchen trong những buổi giảng kín và giới hạn. Trong những dịp này, Ngài thường dùng phương tiện thiện xảo thị hiện qua nhiều sắc tướng, hình tướng và thử thách đột ngột để giúp đệ tử phá vỡ vô minh, chướng căn cho sự tu tập. Theo huấn thị của Ngài, rất nhiều các vị Hóa Thân thuộc tu viện Golog hoặc từ những nơi khác đổ về, các vị hành giả Kim Cang Du Già cao cấp liên tục nhập thất, hạ thủ công phu. Dưới sự hướng dẫn và gia trì đặc biệt của Ngài, họ đều đạt được kết quả tốt đẹp.

Lòng từ bi, thương yêu của Ngài với các môn đồ thật không thể nào kể xiết. Với đại chúng, trong những năm sau cùng, Ngài thường giảng pháp Bardo “Thân Trung Ấm”: cho người hữu duyên ở khắp mọi nơi. Theo lời Ngài, qua linh kiến, Ngài đã thấy do nghiệp lực sâu dày đã tới lúc chín mùi, loài người phải trải qua chướng nạn rất dữ dội, và do cộng nghiệp sẽ xảy ra rất nhiều tai nạn lớn khiến nhiều sinh linh bị chết bất đắc kỳ tử. Vì đột ngột mất mạng, nên các thần thức này rất hoảng sợ, hoang mang, dễ bị gió nghiệp kéo vào đầu thai nơi khổ đau không thể nghĩ bàn. Chính vì vậy mà pháp Bardo được Ngài ban truyền sẽ tạo điều kiện cho con người khi giáp mặt tử thần có thể ứng dụng và nhờ lực gia trì của chư Phật và dòng truyền chư Thánh Tổ mà được siêu sinh về Tịnh Độ.

Mùa đông năm 2007, trong cái lạnh cắt da cắt thịt, hàng chục ngàn người đã đổ về núi tuyết Golog để được Ngài hướng dẫn pháp Bardo.

Giúp Đỡ Dân Du Mục (Nomad) Tây Tạng

Ngài đặc biệt chú trọng đến việc dạy dỗ cho những làng mạc du mục rất nghèo khổ của người Tây Tạng nơi xa các tu viện Phật giáo, nơi ít có người chú ý đến. Khắp vùng Golog, ai cũng biết đến uy lực và công đức của Đại Thánh Khai Mật Tạng Vương Orgyen Kusum Lingpa. Gót ngựa của Ngài đã tung hoàng trên bao núi đồi thiêng liêng, hùng vĩ, mang pháp ngữ nhiệm màu khai thị cho những người dân du mục hoang dã, cùng khổ nhất.

Ngài giải thích rằng trong những thập niên trước vì hoàn cảnh khắc nghiệt của đất nước, dân Tây Tạng không được phép hành đạo và tu học Phật Pháp. Tuy vậy họ vẫn giữ niềm tin tuyệt đối nơi Tam Bảo. Đáng tiếc thay, vì không được hướng dẫn nên phần đông chỉ biết lễ Phật, nhiễu tháp, niệm chú Lục Tự Đại Minh Om Ma Ni Pad Me Hum v.v… Với chính sách mở rộng của chính quyền trong những thập niên gần đây, sự truyền bá Phật Giáo được cởi mở, dễ dàng hơn nên Ngài quyết tâm giúp họ không bỏ phí cơ hội hiếm hoi có được thân người quý báu này.

Hình ảnh bậc Thầy uy nghi, kỳ vĩ, tiêu dao trên lưng ngựa, vai đeo hộp đựng Kinh hay Mật Điển (Vajra Prayer Box, còn lại là Gau), lưng dắt dao găm thiêng Phổ Ba Phurba; hay khi Ngài đang dạy Pháp cho dân du mục lúc trên đồng cỏ, khi trong lều vải đơn sơ với hàng chục, hàng trăm người từ vùng phụ cận đổ về chen chúc dưới chân Ngài cạnh lò than hồng nhỏ đốt bằng phân trâu Yak giữa lúc bên ngoài tuyết đổ mênh mông, trắng xóa khung trời; đó là kỷ niệm, ký ức linh diệu muôn đời với sự dạt dào, rung động đã khiến nhiều người chỉ cần nhìn thấy những hình ảnh này đã cảm khái, phát tâm quy y Tam Bảo, cầu nguyện xin được gặp và thọ học với Ngài.

Trên bàn thờ của hầu hết các gia đình du mục và nhiều người Tây Tạng trong vùng Golog đều để chân dung của Ngài. Họ tin rằng nơi nào thờ phượng hình Lama Sang (ngay từ khi Ngài còn trẻ) thì nơi đó quỷ ma, các ác thần không thể gây tác hại.

Những ngày tháng sau này, với tuổi già và sức khỏe suy yếu, Lama Sang phải sử dụng xe hơi đến để dạy dân du mục. Họ đều biết và nhận diện được xe của Ngài. Chỉ cần nhìn thấy xe từ xa, trẻ mục đồng đang chăn đàn, các phụ nữ du mục đang chuẩn bị bữa ăn tối, những người đàn ông

lực lưỡng đang bổ củi hay đang trên lưng ngựa đều dừng tay, rập đầu bái lạy. Sự tôn kính và khát ngưỡng của họ đối với Ngài thật không thể nghĩ bàn!

Lòng từ bi của Ngài với dân du mục rất bao la. Đã mấy lần sau khi rời khỏi bệnh viện Chengdu (Thành Đô), trên đường trở về, trong khi mọi người chờ đợi Ngài ở tu viện để truyền nước biển và mong Ngài nghỉ ngơi thì Ngài đột ngột ra lệnh cho tài xế và thị giả chuyển hướng đưa Ngài đến thẳng nơi dân du mục để Ngài tiếp tục dạy Pháp. Điều này khiến những người thân của Ngài rất lo ngại vì Ngài đang yếu sẵn mà vẫn nỗ lực vận dụng hơi sức để dạy dân nên sau đó thường trở bệnh, mệt hơn.

Dù vậy, Lama Sang không hề thay đổi mức độ hoằng Pháp mạnh mẽ của mình, Ngài không bỏ một buổi giảng nào mà còn đi nhiều hơn trước, không bỏ cơ hội nào để độ pháp, cứu người. Không những Ngài ra ngoài giảng Pháp mà dân Tây Tạng từ khắp muôn phương cũng đổ về, hàng ngày cả chục, cả trăm người tụ hội về lễ lạy, nhiễu tháp, ngồi la liệt trong khung hàng rào tu viện chờ đợi xin được gặp Ngài để được ban phước và gia trì, giải quyết cho các ước nguyện riêng của họ.

Không chỉ dạy Pháp mà Ngài còn dạy dân du mục Tây Tạng cách ăn, ở, lễ nghĩa và thường xuyên giúp đỡ họ trong đời sống hàng ngày từ tâm linh đến vật chất.

Có lần Ngài đi dạy Pháp cho dân du mục trở về mệt đến nỗi không thể đi được và phải chích thuốc, truyền nước biển liên tục; hai thứ nam của Ngài là Thầy Hungkar Dorje và Thầy Dorje Trangpo cùng những vị Hóa Thân Lạt Ma (Tulku) thuộc ban lãnh đạo tu viện đã bày kế để ép Ngài nghỉ ngơi. Họ đóng cổng vào khuôn viên của khu Yogi, nơi tịnh thất của Lama Sang, không cho ai ra vào ngoại trừ những thị giả với nhiệm vụ hầu hạ thường trực cho Ngài. Khi Lama Sang biết được, Ngài thịnh nộ phản ứng và bảo rằng nếu các vị này cắt đứt liên hệ của Ngài với dân chúng, với học trò thì sự sống của Ngài ở đây, thân tứ đại này không có ý nghĩa gì

nữa thì Ngài sẽ dùng Kim Cang Hỏa Muội để tự hủy diệt xác thân.

Nghe vậy, các vị vội vàng cho mở cổng, để dân chúng và môn đồ vào thăm, yết bái Ngài. Chờ lúc không ai để ý, Ngài lập tức ra lệnh cho các thị giả thân cận, trung thành nhất bí mật mang xe hơi đến đưa Ngài rời tu viện để đến vùng xa đi phát thuốc, phát lương thực, quần áo và dạy Pháp cho các làng du mục nghèo khổ đang thiết tha cầu nguyện với khát khao được bảo bọc dưới ân phước gia trì của Ngài. Khi ban lãnh đạo tu viện biết được thì đã quá trễ, xe đã lăn bánh chỉ còn thấy đám bụi mù và nghe văng vẳng lại tiếng cười khanh khách thích thú, đầy nghịch ngợm của Ngài Tế Điên thế kỷ 21.

Chuẩn Bị Tâm Lý Cho Môn Đồ

Hiểu được tấm lòng tha thiết sùng mộ và yêu mến của môn đồ với mình, từ nhiều năm Ngài đã cẩn thận chuẩn bị tâm lý và y chỉ, hướng đi tương lai cho tu viện và tất cả môn đồ tại Tây Tạng cũng như ở những nước khác.

Trong mỗi buổi giảng, Ngài đều nhắc nhở mọi người thiền định sâu sắc về lẽ vô thường của thế gian để hết lòng tập trung thực hành Pháp; đừng bỏ phí thời gian và cơ hội mang thân người quý báu vì đời người ngắn ngủi và chính Ngài chẳng bao lâu nữa cũng sẽ ra đi. Các môn đồ đều thầm hiểu ý tứ của thông điệp này và tình thương Ân Sư gửi gắm; mọi người vô cùng đau xót, nhưng dường như không ai muốn nhận hay có đủ can đảm chấp nhận sự thực đau lòng này.

Kế Truyền

Thầy Hungkar Dorje, thứ nam của Ngài và là đương kim Trụ Trì Tu Viện tại Golog đã được Ngài chính thức trao truyền trách nhiệm kế thừa từ nhiều năm trước. Như đã nói ở trên, Thầy Hungkar Dorje là vị Hóa Thân trực tiếp của Đại Thánh Sư Phật Giáo Do Khyentse, vua Pháp Trisong Detsen, Hóa Thân Trí Huệ Văn Thù, Hóa Thân về Tâm của Tổ Jigme Lingpa v.v…

Tại Tây Tạng điều này rất rõ ràng và hiển nhiên nhưng tại Mỹ quốc và Trung Quốc, Ngài bắt đầu chính thức giới thiệu Thầy là chính thức Kế Truyền của Ngài với các môn đồ từ năm 2006 tại San Diego, Berkley và Oregon. Ngài dạy rằng sau này khi Ngài ra đi, các môn đồ thuộc mọi tầng lớp, trường phái từ Yogi, Yogini, các Tăng, Ni cho đến các hành giả tu tại gia sẽ được Thầy Hungkar tiếp tục hướng dẫn và phải tiếp tục học hỏi, tu tập, đào tạo nền tảng Đại Thừa vững chắc cho việc thực hành hữu hiệu các bộ pháp Kim Cang. Mọi người phải tuân theo lời Thầy và phụng sự Thầy như đối với chính Ngài.

Lòng Bao Dung, Tha Thứ và Y Chỉ Cho Môn Đồ

Căn bệnh càng lúc càng tàn phá, cơ thể vật lý đã rất mỏi mệt mà Ngài vẫn tiếp tục hoằng Pháp không ngừng nghỉ. Mặc dù số môn đồ của Ngài rất đông, ở rất nhiều quốc gia trên thế giới nhưng dường như Ngài không quên một ai; hay nói một cách khác Ngài đều nhớ tất cả. Đức từ bi, vô lượng của Lama Sang thật vô lượng! Đi đến đâu Ngài cũng bảo các thị giả mang theo nhiều túi đựng quà cho đệ tử, khi thì xâu chuỗi, hình Phật, lúc thì chiếc áo, cái quần; ai ai cũng có được quà do đích tay Ngài ban cho làm kỷ niệm với thần lực gia trì riêng cho người nhận.

Từ năm 2007, Ngài thường đột ngột yêu cầu thị giả hoặc môn đồ thân cận đột xuất đưa Ngài đi thăm những đệ tử đang gặp khó khăn hoặc đang ở trong bệnh viện, hoặc đang cơn khổ nạn. Ngài không màng tới thân mình, kể cả việc ngồi chờ dưới trời nắng gần 4 tiếng đồng hồ để gặp người có nạn, hầu làm pháp đặc biệt để giải trừ cho người này và gia đình, hoặc để cứu mạng cho một môn đồ thân cận vừa bị tai biến mạch máu não đã vào hôn mê.

Với người gặp khổ nạn khốn cùng, mất cơ nghiệp không còn nhà ở, không có tiền ăn, Ngài đích thân mang tiền đến cho hoặc gửi các đệ tử khác gửi đến giúp.

Có những đệ tử do nghiệp lực đã vi phạm samaya – những giới luật Mật Thừa, kể cả giới trọng nhất là phạm giới với Bổn Sư và vì thế phải chịu rất nhiều chướng ngại và khổ nạn. Trước đây Lama Sang không hề nhắc đến họ nhưng trong thời gian này, Ngài bỗng ra lệnh cho tìm gọi và nhắn họ đến gặp Ngài. Chính mắt người viết đã nhiều lần nhìn thấy trong những dịp này, hình ảnh cực kỳ vĩ đại nơi Bậc Tôn Sư kính quý của mình!

Trước những đệ tử phạm giới, mất thệ nguyện samaya đang run sợ, e dè bước vào, Lama Sang đang nằm trên giường cũng cố ngồi dậy, dang rộng vòng tay ôm họ vào lòng. Trong ánh mắt đầy tràn bi mẫn, yêu thương, Ngài cụng đầu, choàng khăn Kata trắng để ban phước rồi hôn lên trán họ rất dịu dàng như thể người mẹ đang đón đứa con lạc đường trở về căn nhà thánh thiện.

Không cần một lời giải thích nào, mọi tội lỗi với Ngài đã được Ngài rửa sạch cho; Ngài đã tha thứ hết. Trong hào quang từ bi vô lượng của Ngài, đứa con lạc đường bỗng bừng tỉnh rồi òa lên khóc dù đó là người đã hơn 50, 60 tuổi. Chúng tôi, hàng thị giả đang đứng gần cũng nghẹn ngào rơi nước mắt.

Gần như tất cả môn đồ thân cận đều được Ngài gọi đến gặp riêng và ban y chỉ cho từng cá nhân một. Trong suốt hai năm 2007 và 2008, Lama Sang đã ban nhiều y, áo Yogi, Yogini và một số Pháp bảo, Pháp khí Kim Cang cho một số môn đồ đặc biệt, Ngài thọ ký cho họ về những Mật Bộ Kim Cang thích hợp với căn cơ của họ.

Bên Tây Tạng, Ngài dùng tiền của đại chúng cúng dường để mua rất nhiều thuốc men và thực phẩm mang tới những vùng đói khổ, những người tàn tật để phát cho họ rồi hồi hướng công đức cho người cúng dường cũng như chúng sinh ở khắp mười phương.


Chuẩn Bị Về Núi Màu Đồng – Di Huấn

Năm 2008, sức khỏe của Ngài càng lúc càng suy yếu. Tuy phải vào bệnh viện để truyền nước biển nhiều lần nhưng Ngài vẫn tiếp tục công cuộc hoằng Pháp tại Mỹ Quốc qua hai chuyến đi thường niên Mùa Xuân và Mùa Thu.

Mùa Hạ năm ấy, tại tu viện Golog, Lama Sang đã thị hiện thần thông phi thường, kiềm giữ bệnh lại để mỗi ngày đều ban pháp Quán Đảnh và giảng dạy, khi thì dạy tại trường Yogi, lúc dạy cho các tăng sĩ, sư ni, các vị Hóa Thân cao cấp tại tu viện Golog hay từ những nơi khác đến xin thọ Pháp.

Có hôm dân Tây Tạng trong khắp vùng phụ cận kéo về học Pháp, Ngài lại đăng đàn giảng Pháp suốt ngày cho hàng ngàn người. Thỉnh thoảng Ngài lại biến mất mấy hôm, đã quen rồi nên tu viện biết ngay Ngài lại đến giúp đỡ, giảng dạy cho dân du mục.

Ở nơi nào Ngài cũng nhắc nhở rằng đã đến gần thời điểm Ngài đi về Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ nơi Tôn Sư của Ngài (Đức Liên Hoa Sanh) đang chờ ở đó. Lama Sang bảo những môn đồ hãy xem mình như con cái của Ngài; mà Ngài là vị vua cha đã trao tất cả tài sản, những gì mình có (Pháp Bảo) cho con cái mình là những Công Chúa, Hoàng Tử. Các Công Chúa, Hoàng Tử này phải luôn gìn giữ tài sản quý báu này, sử dụng (tu tập) và rồi trao truyền cho thế hệ sau, không được để cho đứt đoạn (truyền thừa).

Ngài tha thiết nhắc nhở môn đồ hãy luôn hòa thuận, tương trợ nhau để tiến tu và làm lợi ích cho thế giới qua việc xiển dương Giáo Pháp, nỗ lực hành trì cho tới Giác Ngộ.

Ở Tây Tạng, Ngài bảo một trong các đại đồ đệ và là thị giả thân cận nhất của Ngài là Karma Dorje, một thượng thủ Yogi tại Golog rằng Ngài sẽ độ một tỷ sinh linh về cõi Tịnh Độ hoặc Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ (Tịnh Độ Kim Cang) tùy theo căn cơ của họ. Người nào có nhân duyên với Ngài dù thuận hay nghịch cũng sẽ được Ngài độ cho không rớt vào đường dữ. Kẻ nào nghe đến tên Ngài, nhìn thấy hình, tượng của Ngài hay đọc chú Guru (Om Ah Hung Benza Guru Pedma Siddhi Hum) rồi cầu đến Ngài thì sẽ được Ngài độ cho qua khỏi cảnh ngặt nghèo.

Ban đầu, Karma Dorje thắc mắc rằng một tỷ là con số rất lớn, làm thế nào Lama Sang gặp đủ một tỷ người để có thể hóa độ đủ con số này? Hiểu được tâm tư ấy, Lama Sang giải thích rằng con số ấy không chỉ gồm nhân loại mà còn cả các chúng sinh trong các cõi khác như lời Ngài thường giảng là phải hồi hướng cho các chúng sinh trong tam cõi, sáu đường.

Karma Dorje hiện nay đang lãnh đạo và phụ trách giảng dạy trường Yogi tại Golog.

Riêng với các môn đồ tâm yếu, các hành giả Kim Cang đã thọ giới Bổn Sư với Ngài và vẫn chuyên cần tu tập, Ngài hứa rằng sẽ không bao giờ xa cách họ. Chỉ cần tâm họ luôn gắn kết với Ngài thì Lama Sang sẽ luôn ở bên cạnh để gia trì và hướng dẫn họ trong khi tu tập cũng như trong đời sống hàng ngày mà không phút giây nào xa rời họ. Ngày họ lìa bỏ thân xác, rời khỏi thế giới này, hãy kêu gọi, cầu khẩn đến Ngài, Ngài sẽ đến nắm tay đưa họ về Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ của Tịnh Độ Kim Cang.


Một Cánh Chim Bay Trong Khúc Nhạc Vàng

Đầu năm 2009, bệnh gan của Ngài khi đó đã di căn sang dạng ung thư ở thời kỳ cuối. Ngài thường trở mệt bất ngờ và hay đột nhiên ngủ thiếp giữa ban ngày.

Cũng cùng thời điểm này, các môn đồ, những người thân cận và Phật tử từ nhiều quốc gia khác nhau bắt đầu có những giấc mơ, thị kiến khác nhau nhưng đều mang dấu hiệu báo rằng đã sắp đến thời điểm Ngài sẽ thị tịch.

Từ San Jose, California, cô Chi nằm mơ thấy một đám tang long trọng và vĩ đại của một vị Đại Sư Thượng Thủ tại Tây Tạng mà cô nghĩ là Lama Sang.

Ngày 1, tháng Hai, năm 2009, khi tôi đang làm việc tại Denver, Colorado thì chợt nhận được điện thoại của một đồng đạo là Luật Sư Justin Dituri cho biết là nằm mơ thấy bộ chuông chày vàng của Lama Sang bay lên trời trong ánh sáng cầu vồng. Justin vô cùng hoảng sợ vội gọi cho tôi vì đó là điềm lành trong Kim Cang Thừa về sự chứng đắc của một hành giả phi thường, nhưng lại là nỗi lo sợ phải xa Thầy của các đệ tử.

Cũng trong đêm hôm đó, tôi nằm mộng thấy Lama Sang và thấy mình đang khóc ngất, hờn giận Thầy nhưng Ngài vẫn quay lưng. Nghe điện thoại của Justim, tôi lặng người, vội gọi cho một đồng đạo khác cũng thuộc nhóm môn đồ tâm yếu của Ngài tại Mỹ là Judy Crawford thì chị cũng bày tỏ nỗi lo sợ trên.

Chiều đến, tôi gọi sang Trung Quốc, khi đó Ngài đang nằm tại bệnh viện Chengdu. Hôm đó là ngày mùng 2 tháng Hai, năm 2009, con trai út của Ngài là vị Hóa Thân Dorje Trangpo nhận điện thoại rồi chuyển cho Ngài.

Nghe tiếng học trò ở xa Ngài mừng lắm, cứ liên tục gọi tên rồi bảo:

“… I miss you… ! I miss you… ! I miss you… !…” (Ta nhớ con!… Ta nhớ

con!… Ta nhớ con!…) như Ngài vẫn thường nói với các đệ tử tại Mỹ. Tôivừa nói với Ngài vừa nghẹn ngào, nức nở. Ngài lại an ủi: “… Lama Sang OK, many OK…!

Dù tiếng nói rất yếu ớt và trong tiếng Mỹ giới hạn của mình, Lama Sang vẫn không chịu nhận là đang đau, vẫn bảo mình “no pain, no pain”. Sau cùng tôi hỏi dồn mãi Ngài mới chịu nhận là “a little bit hurt” nhưng vẫn âu yếm gọi con gái rất thân thương: “Jampal Drolma beautiful, beautiful… Lama Sang comes soon… I love you, I love you…

Nào Ngờ Đó Là Lần Cuối Con Được Nói Chuyện Với Thầy

Sau khi ngừng cuộc điện thoại đó, một cảm giác thật lạ lùng, đau đớn không kể xiết, dường như có ai đó đang bóp chặt trái tim xâm chiếm lấy tôi… Tôi chợt òa lên khóc, những dòng nước mắt cứ mãi tuôn chảy tràn trề mà không thể nào cầm lại được. Từ hôm ấy tôi khóc mãi cho đến hết tháng 9, năm 2009, khi tôi trở lại tu viện Golog trong kỳ Pháp hội Monlam và để lễ lạy xá lợi của Ân Sư…

Sau đó bệnh tình của Lama Sang càng lúc càng nguy kịch. Theo lệnh của Sư Tổ Đại Thánh Sư Do Drupchen Đệ Tứ, Ngài được đưa về tu viện để chuẩn bị cho ngày nhập Niết Bàn.

Mùa đông năm ấy, tại tu viện thời tiết đổ lạnh như chưa từng bao giờ lạnh như vậy, nhưng nghe được tin Ngài, hàng chục ngàn người dân Tây Tạng từ khắp nơi đổ về chấp nhận ngồi la liệt dưới trời tuyết lạnh, không cả lều vải, mái che để cầu nguyện cho Ngài khỏe lại.

Giữa những bông tuyết bay mù trời, Thầy Hungkar dạy dân chúng trì chú Guru để nối kết với tâm Ngài và ăn chay, làm điều lành, lánh dữ để tạo thiện nghiệp. Trong dịp này, nhờ sự gia trì của Lama Sang và nguyện lực của Thầy Hungkar, trên 20 ngàn người tại Tây Tạng và những nơi khác đã phát nguyện ăn chay trường, suốt đời quy y Tam Bảo.

Ngày 26 tháng Hai, Ngài rời thân tứ đại, lìa bỏ trần thế theo đúng quy cách một Đại Thiền Giả Dzogchen Đại Viên Mãn; trong suốt 7 ngày Ngài nhập thiền định, chứng đắc Pháp thân tối thượng rồi trở về Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ để tiếp tục hành trình và sứ mạng cao cả của mình.

Rất nhiều điềm lạ đã xảy ra trong thời điểm này, hạc và công tại tu viện đồng thời cất tiếng kêu lớn và dài thê lương như tiếng khóc. Trên trời nhiều cầu vồng lớn nhỏ xuất hiện trong một thời gian khá dài. Một số lớn các đệ tử ở xa nhận được thị kiến về Ngài. Peter mộng thấy Ngài đang đi phát quà và bánh cho trẻ em, người khác nhìn thấy Ngài đến từ biệt và có người đang cầu nguyện thì thấy Ngài thị hiện ngay ở trước mặt và vuốt nước mắt bảo rằng: “… Thầy không bao giờ bỏ con!

Tại Golog, trời mãi rơi hoa tuyết như Hoa Mạn đà la do chư thiên cúng dường Ngài. Cả không gian mênh mông trắng xóa như màn tang đang phủ xuống khắp núi đồi Golog.

Sau lễ Trà Tỳ, Ngài để lại rất nhiều Xá Lợi. Nhiều hạt lớn trắng như hạt ngọc trai với ánh sáng ngũ sắc, có những hạt kết tụ lại như vàng ròng, có nhiều xá lợi máu màu đỏ huyết dụ, lại có xá lợi tự phát sinh và bao lấy xá lợi của các xương vụn màu ngũ sắc.

Bài viết cầu nguyện Ngài sớm tái sinh trở lại do Thầy Hungkar Dorje viết theo thể thơ vô cùng sâu sắc của Tây Tạng bao gồm sự tích cuộc đời, tán thán công đức và biểu lộ tâm tình đau xót mà an lạc của những người ở lại quyết noi gương Ngài đã làm rơi lệ hàng ngàn người mỗi lần được cất lên.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đương thời cũng viết bài Cầu Nguyện Vị Phẫn Nộ Bí Mật Chủ mau chóng tái sinh. Cả hai bài hiện đang được hàng trăm ngàn người trên thế giới đọc tụng mỗi ngày.

Lực lượng và Công đức của Ngài để lại cho dòng Cổ Mật nói riêng, cho nhân loại và chúng sinh các cõi giới nói chung thật quá vô biên, mà không bút mực nào có thể tả xiết! Người viết bài này ngày hôm nay còn giữ được thân mạng để tiếp tục học hỏi, tu tập, triển khai và thực hành Bồ Tát đạo cũng do nhờ hồng ân Chư Phật và gia trì, ơn phước của Ân Sư.


Đại Bàng Đã Về Trời

Nói về linh ứng vi diệu của Ngài thì không bao giờ kể hết. Tuy không còn hiện diện thân vật chất trên trái đất, nhưng y như lời hứa của mình, Ngài vẫn thường xuyên hiện diện, đến cùng các đệ tử có tín tâm hoặc ai cầu khẩn đến Ngài.

Lama Sang đã trở về quê hương thanh tịnh của Ngài ở Tịnh Độ Kim Cang Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ, nhưng uy phong, thần lực của Ngài, Bậc Sư Tử Tuyết Vương với những giáo huấn cùng sự gia trì sẽ đời đời kiếp kiếp được xiển dương, trao truyền và làm lợi lạc cho các thế hệ tương lai trong cõi đất cũng như chúng sinh trong các cõi khác…

Ghi chú:

Theo truyền thống Phật giáo, Tiểu sử về thầy mình thường do các môn đồ thân cận ghi lại… Người viết bài này đã được gia trì và chấp thuận của Ân Sư cùng hỗ trợ của các vị tôn sư, hộ pháp của dòng phái để thực hiện bản tiểu sử Tôn giả Kusum Lingpa trong dịp Ngài viếng thăm nước Mỹ mùa Xuân 2007.

Vì thời gian quá khẩn cấp, chúng tôi sẽ bổ túc và sửa chữa trong tương lai gần để thêm hoàn chỉnh.

Trân trọng cảm tạ và biết ơn sự giúp đỡ của Hungkar Dorje Rinpoche, Dorje Trangpo, Rob McGann của Sun Entertainment, Michelle Thuỷ, Peter cùng tất cả các vị đã tạo điều kiện, cho tin tức hoặc giúp đỡ chúng tôi hoàn thành việc này trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Nguyện từng dòng, từng chữ của bản văn này gieo được chủng tử giác ngộ và tạo sự tín thành cho người đọc hầu mang lại lợi ích cho họ đời này cùng các kiếp tương lai trên con đường viên mãn Phật Quả, làm lợi ích cho chúng sinh các cõi giới!

Nhờ sự gia trì của Đức Tara, phần thứ nhất của bản tiểu sử đã được hoàn tất vào lúc 10h sáng ngày 3, tháng 3, năm 2007. Viết tại San Jose, California trong ngày Lama Sang ban Quán Đảnh và truyền Pháp Orgyen Jambhala cho đại chúng.

Bắt đầu sửa chữa, bổ sung và viết thêm phần hai vào đầu năm 2010, hoàn tất vào cuối mùa hạ năm 2010.

“Kính cẩn và mến yêu dâng lên Lama Sang với vô vàn thương nhớ, sùng mộ và kính ngưỡng! Nguyện đời đời kiếp ki ếp sanh ở đâu, con cũng được gặp và th ụ học bên chân Thầy!”

Jampal Dolma

Tham khảo thêm

ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA – MỘT KHO TÀNG CỦA THỜI ĐẠI CHÚNG TA ( 1933 – 2009 )

Khuôn mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một “Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani” (Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng, H.H. Orgyen Kusum Lingpa.

Đứng trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại, và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.

Với sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất xứ Shang.”

Trong đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash (Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín, Thubten Chokyi Nyima.

Ngài tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm, xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo, Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo huấn và tiên tri cho Ngài.

Thân mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý. “Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!

Vào khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye, ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng ẩn dấu ở năm phương hướng.

Không lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi, Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu) này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó, Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma) còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.

Giữ vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.

Lối giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy, những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát được mình!”

Nhưng Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng; ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói: “Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”

Quả thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết, nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.

His Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người, như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta. “Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức được hướng tới hiện tại hơn nữa.”

His Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc, Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng tử sẽ nở rộ trong những đời sau.

His Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không nên bỏ lỡ Ngài.

Nguyên tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler

http://www.wolfenet.com/~markho/k_lisnoln.html

Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa


MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA NGÀI

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 2

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 3

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 4

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 5

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 6

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 7

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 8

TIỂU SỬ ĐỨC ORGYEN KUSUM LINGPA 9

 

Back To Top