Tiểu sử Đức Pháp vương Penor Rinpoche (1932 – 2009)

Pháp vương Pema Norbu (“Penor”) Rinpoche đã dành cuộc đời để thực hành và chứng ngộ các giáo lý Phật Đà, chắc chắn rằng giáo lý không chỉ được duy trì, mà còn phát triển ra nhiều vùng trên thế giới. Sau đây là những thông tin được thu thập từ các nguồn trực tiếp và nhiều cuốn sách của Học viện Ngagyur Nyingma. Chúng tôi cầu nguyện rằng tiểu sử này sẽ tiếp tục duy trì, hoằng bá và phát triển giáo lý, như Đức Pháp vương hằng mong muốn!

Tiểu sử Đức Pháp vương Penor Rinpoche (1932 – 2009) 1

Sự công nhận

Ngài Drubwang Pema Norbu Rinpoche đời thứ ba sinh ở vùng Powo, thuộc tỉnh Kham, miền Đông Tây Tạng, trong gia đình của Sonam Gyurme và Dzom Kyi trong tháng mười hai năm Nhâm Thân (tức năm 1932). Ngài sinh ra vào thời điểm lạnh giá nhất của mùa đông, khi mà không gì có thể phát triển và vùng đất ngập trong tuyết trắng. Tuy nhiên, vào thời điểm Ngài chào đời, hoa nở khắp ngôi nhà của vị tulku mới sinh. Hơn thế nữa, hai đoàn tìm kiếm vị tulku, một được cử bởi Dzogchen Rinpoche và một được cử bởi Khenchen Ngagi Wangpo đã gặp nhau ở chính ngôi nhà này, và khẳng định sự công nhận không do dự gì. Việc trao đổi và đi lại ở những vùng núi cao thuộc miền Đông Tây Tạng không nhanh chóng như bây giờ, bởi vậy điều này được xem là một dấu hiệu tốt lành.

Tiểu sử Đức Pháp vương Penor Rinpoche (1932 – 2009) 2

Ngài Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche đã tiên đoán điểm đến của hóa thân mới. Năm 1936, năm Bính Tý, vị Pema Norbu trẻ tuổi được mời đến tu viện Palyul, nơi Ngài quy y với Khenpo vĩ đại và uyên bác. Khenchen Ngagi Wangpo Rinpoche tiến hành lễ cắt tóc truyền thống và ban cho Ngài Pháp danh “Dhongag Shedrup Tenzin.” Khen Rinpoche sau đó ban cho Ngài quán đảnh trường thọ Amitayus [Phật Vô Lượng Thọ] và biên soạn lời cầu nguyện trường thọ, được tụng đọc hàng ngày bởi hàng nghìn đệ tử của Penor Rinpoche trên toàn thế giới cho đến khi Ngài viên tịch.
Rinpoche chính thức được đăng ngôi bởi đạo sư của Ngài, Thubten Chokyi Dawa (1894 – 1959) [Chogtrul Rinpoche thứ hai] và Karma Thekchok Nyingpo (1908 – 1958) [Karma Kuchen Rinpoche thứ tư]. Penor Rinpoche trở thành bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười một của Tổ Đình Palyul với hơn 400 tu viện nhánh. Ngài dành rất nhiều năm ở Palyul, nghiên cứu và thọ nhận giáo lý từ các bậc đạo sư và học giả. Ngài nhận trao truyền tâm-truyền-tâm từ Lungtrul Rinpoche Shedrup Tenpai Nyima. Ngài cũng nhận được giáo lý và chỉ dẫn từ Ngài Karma Kuchen Rinpoche thứ tư, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười [của tu viện], người chuẩn bị kỹ lưỡng để Ngài trở thành vị kế thừa. Đến lượt mình, Pháp vương Penor Rinpoche đã hướng dẫn Karma Kuchen Rinpoche thứ năm.

Tiểu sử Đức Pháp vương Penor Rinpoche (1932 – 2009) 3

Có rất nhiều ví dụ minh chứng sức mạnh phi thường của Penor Rinpoche, thậm chí khi còn là một đứa bé. Một lần, Ngài đang chơi đùa với một chày Kim Cương cổ và quý giá, khi nó thình lình trượt khỏi tay và rơi xuống đất, vỡ làm đôi. Lo sợ bị thầy quở trách, Ngài nhanh chóng gắn nó lại bằng nước bọt của mình, khiến chày Kim Cương còn mạnh mẽ hơn trước. Một sự việc tương tự xảy ra sau đó, trong một lễ Chasum, Ngài làm rơi chuông nghi lễ xuống sàn đá. Mọi người cho rằng chiếc chuông đã vỡ, nhưng khi Penor Rinpoche nhặt nó lên, nó không bị vỡ và vang lên còn ngọn ngào hơn trước. Mười lăm tuổi, Penor Rinpoche để lại dấu chân trên đá gần khu thất Dago trên tu viện Palyul, nơi mà ngày nay, nó vẫn có thể được thấy.

Một lần khi Ngài vẫn còn trẻ, Rinpoche gặp một người đàn ông già, kẻ cứ nài nỉ Ngài thực hành Phowa cho mình. Một cách ngây thơ, Rinpoche làm theo thỉnh cầu. Kết thúc thực hành, Ngài quá đỗi ngạc nhiên khi thấy rằng lão già đã chết – Phowa đã quá hiệu quả! Ngay lập tức Ngài bắt đầu thực hành lại, để hồi sinh tử thi nằm đó. Lão già đã sống lại, nhưng thay vì cảm ơn, lão hét lên, “Ôi trời ơi, sao Ngài lại mang tôi về? Tôi đã ở Cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà!”
Trong nhiều năm sau đó, cháu trai của lão già đó đã phục vụ ở tu viện Namdrolling, Ấn Độ.

Việc tu học

Đức Penor Rinpoche đã tu học với rất nhiều vị lạt ma, nhận được những lợi lạc từ mối quan hệ ấm áp và thân thiết mà Ngài có với bậc thầy vĩ đại của Ngài, Đức Chogtrul Rinpoche thứ hai. Trong buổi lễ quy y, Chogtrul Rinpoche đã ban cho Ngài Pháp danh Thubten Lekshe Chokyi Drayang, “Bậc trì giữ giáo lý Phật Đà với khẩu oai hùng của Pháp cao quý.” Tại khu thất Dago, Ngài đã nhận và thực hành giáo lý dự bị Namcho Dzogchen của Sangye Lakchang, “Đức Phật trong lòng bàn tay.” Ngài cũng nghiên cứu nhiều môn học, bao gồm biên soạn, thi ca, chiêm tinh, y học và tiếp tục nghiên cứu Kinh điển với Khenpo Nuden, Khenpo Sonam Dondrup và Khenpo Gondrup.

Ở tuổi mười ba, Ngài thọ nhận giới getsul và nhận Pháp danh “Dongak Shedrup Tendzin Chokle Namgyal” (Bậc trì giữ vinh quang giáo lý của Nghiên cứu và Thực hành Kinh và Mật). Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài thọ nhận giới gelong (Cụ túc giới) từ bậc Đạo sư ở tu viện Tarthang và thọ nhận vô số giáo lý, bao trọn toàn bộ những chỉ dẫn và quán đảnh quan trọng của truyền thống Nyingma. Dòng truyền thừa giới luật này vô cùng thanh tịnh, được trao truyền đến Tây Tạng bởi Đức Shantarakshita trong thời đại của Đại Sư Liên Hoa Sinh.

Vào buổi lễ truyền giới, Chogtrul Rinpoche dâng lên Penor Rinpoche bộ y vàng được trân trọng và truyền trao bởi các thế hệ trì giữ truyền thừa. Mặc dù vô vàn khó khăn trong việc trốn khỏi Tây Tạng, Penor Rinpoche đã mang theo bộ y này trong suốt quá trình đến Ấn Độ khi để lại đằng sau rất nhiều tài sản quý giá khác. Kết quả là, trong cuộc đời sống lưu vong, Ngài đã có thể truyền giới cho hơn 10000 vị tăng ni, bởi vậy Ngài đã cống hiến lớn lao cho sự ổn định của giới luật tu sĩ và thực hành Kim Cương thừa trong thời đại suy đồi này.

Từ vị Khenpo vĩ đại của tu viện Kathok, Khenpo Lekshe Jorden, Penor Rinpoche thọ nhận rất nhiều trao truyền. Trong đó, đặc biệt là truyền thống Kham của quán đảnh Anuyoga của Do Gonpa Dup qua nghi lễ quán đảnh nổi tiếng “Dòng sông Cam lồ” của Mokton Dorje Palzang. Penor Rinpoche cũng thọ nhận truyền thống cổ của tu viện Kathok và cùng lúc là các quán đảnh, trao truyền và giáo lý của “Kho tàng các chỉ dẫn cốt tủy” của Jamgon Kongtrul, “Lời dạy cô đọng của Lạt-ma” của Terton Dorje Lingpa, kho tàng “Hung Kor Nyingtik” của Dorje Lingpa, Cô đọng trọn vẹn của Kagye của Ngài Ngari; và bộ Tendrel Nyesel của Lerab Lingpa. Từ Karma Kuchen Rinpoche, Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Anu Yoga của Ngài Nyelpa Delek từ truyền thống Rinchen Trengwa.

Một vị thầy khác của Ngài là Khenpo Khyentse Lodro, cũng được gọi là Khenpo Nuden, từ tu viện Kathok. Trong khu rừng phía trên khu thất Dago, Khenpo Khyentse Lodro tiến hành lễ Drupchen về Anuyoga Dupa Do, cùng lúc đó ban trao truyền về bốn bộ mới trước tác của Ngài về Anuyoga. Khenpo kể câu chuyện sau đây: Trước khi vị Drubwang Pema Norbu thứ hai qua đời, Ngài đã tặng Khenpo một con dao nhỏ. Lúc đó Ngài không nghĩ nhiều đến nó, nhưng bây giờ Ngài nhận ra nó thực sự nghĩa là gì. Con dao tượng trưng cho thanh gươm trí tuệ, và khi Ngài truyền nó cho Khenpo, nó như thể Đức Pema Norbu ban cho Khenpo sự gia trì để hoàn thành việc biên soạn những bản luận giải mới này, để có thể truyền chúng cho vị tái sinh tiếp theo của Ngài.
Từ Khenpo Pema Jigme, vị Khenpo uyên bác từ truyền thống Palyul ở Golok, Penor Rinpoche nhận chín bộ các trước tác của Jigme Lingpa, mười ba chương của “Ah Cho” của Karma Chagme, và tuyển tập các trước tác của So Wangdrak Gyatso. Khi Ngài đang nhận trao truyền này, Penor Rinpoche bắt đầu làm nút cát tường trong khi gia trì bằng giọng nói, điều chỉ được làm bởi các bậc Đạo sư thành tựu cao nhất. Ngài tiếp tục làm cho đến năm 1958. Chúng nổi tiếng vì cung cấp sự bảo vệ mạnh mẽ khi đeo bên người. Một sợi dây như vậy được giữ và trân trọng bởi một trong các thị giả của Ngài hiện nay.

Trong khoảng thời gian đó, Penor Rinpoche bất ngờ viết một chữ AH lên vỏ ốc trắng. Khi mực bay đi, chủng tự này vẫn in hằn trên vỏ ốc. Vỏ ốc này vẫn được giữ như một đối tượng kính lễ ở tu viện Palyul Tây Tạng.

Khi đã nhận toàn bộ trao truyền Kangyur và Tengyur, cũng như hoàn thành nhập thất Vajrakilaya, Penor Rinpoche bước vào khóa nhập thất cùng với đạo sư của Ngài, Chogtrul Rinpoche. Được nhập thất cùng với chính vị thầy là một vinh dự hiếm có. Penor Rinpoche dành bốn năm trong thất ở tu viện Tarthang trong cùng phòng với đạo sư. Bởi đã già và thị lực suy giảm, Chogtrul Rinpoche trải qua nhiều khó khăn để ban cho Penor Rinpoche mọi trao truyền được thực hành trong truyền thống Palyul, nhấn mạnh vào các quán đảnh, trao truyền, và chỉ dẫn khẩu truyền bí mật của giáo lý Namcho của Terton Migyur Dorje và kho tàng terma của Ratna Lingpa.

Bắt đầu với ngondro, lên đến giáo lý bí mật thâm sâu nhất của Dzogchen, Ngài nhấn mạnh từng thực hành cho đến khi đệ tử của Ngài tìm ra chân lý trần trụi. Ngài nói, “Nếu ta không thể trao truyền mọi quá đảnh, khẩu truyền và giáo lý cho vị Penor Rinpoche thứ ba trước khi rời bỏ thế giới này, thân người quý giá của ta sẽ bị lãng phí.” Với chỉ dẫn liên tục từ Ân Sư, Penor Rinpoche đã hoàn thành thành công mọi giai đoạn của thực hành, thành tựu việc trì tụng gốc của Tam Căn Bản (lama, yidam và khandro), thực hành dự bị Namcho, tummo và tsalung, và thực hành nền tảng chính yếu của Dzogchen “Đức Phật trong lòng bàn tay,” bao gồm trekcho, togal tịnh quang, thực hành togal bên trong, thực hành màn đêm, và rèn luyện trong trạng thái mộng, bản tánh của âm thanh và các cõi tịnh độ.

Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche từng nói rằng, “Penor Rinpoche là một vị thánh, người đã vượt qua các giới hạn của samaya.” Với điều này, Ngài ám chỉ rằng Penor Rinpoche đã thực sự chứng ngộ trí tuệ bên trong, và bởi thế đã chứng ngộ trạng thái không có gì để bám chấp và không có gì để từ bỏ.

Hành hương

Mỗi người Tây Tạng đều mong muốn được hành hương đến Lhasa, đặc biệt để viếng thăm Jowo Rinpoche nổi tiếng, “Bậc chúa tể cao quý,” bức tượng linh thiêng nhất của Tây Tạng. Bức tượng này miêu tả Đức Phật khi còn là một hoàng tử ở tuổi 12 và được cho là đã đúc khi Đức Phật vẫn còn sống.

Năm 1956, Penor Rinpoche, cùng với một nhóm người lớn, đã tiến về miền trung Tây Tạng. Ngài mới chỉ hai mươi tư tuổi. Đoàn người đã viếng thăm các địa điểm linh thiêng, tu viện, chùa, thánh địa của Phật giáo Tây Tạng, bao gồm Samye, Dorje Drak, Mindrolling, Drepung, Ganden và Sera. Mỗi nơi Ngài đến, Penor Rinpoche đều cúng dường rất nhiều. Ngài cũng viếng thăm Đạt Lai Lạt Ma ở cung điện mùa đông. Ngài đã thọ nhận một quán đảnh trường thọ từ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Lễ Monlam Chenmo đang diễn ra, và Ngài cúng dường trà và quyên tặng tiền cho toàn thể tăng đoàn.

Lưu vong
Khi Penor Rinpoche quay trở về tu viện Palyul cuối năm 1956, tình hình ở Kham trở nên vô cùng căng thẳng. Các dòng truyền thừa đã duy trì sự thanh tịnh và chân chính của Phật giáo hàng nghìn năm đang có nguy cơ bị gián đoạn và mất mãi mãi. Nhận thức rõ điều này, và cùng với mệnh lệnh từ chư Bổn tôn hộ pháp, Penor Rinpoche đã cùng với một nhóm khoảng 300 người hướng về biên giới đông bắc Ấn Độ. Đó chắc chắn là một hành trình dài và đáng sợ, tràn đầy hiểm nguy và khó khăn. Cuối cùng, chỉ ba mươi người sống sót đến được Ấn Độ.

Chư Bổn tôn hộ pháp của Penor Rinpoche đã chỉ dẫn Ngài từng bước trong hành trình. Nhóm của Ngài bị quân đội truy đuổi. Súng nhắm đến chân Ngài, và lựu đạn rơi thẳng về phía Ngài. Nhưng chúng chỉ nổ sau khi Ngài đã di chuyển đến chỗ an toàn. Đói khát, một vài người muốn giết động vật để ăn, nhưng Penor Rinpoche không thể chịu đựng việc nhìn thấy những con vật vô tội bị giết thị và sẽ đến trước để thả con vật đi. Cuối cùng họ đến được Pema Kod và bang miền Đông Ấn Độ, Arunachal Pradesh. Trong năm 1960, nhiều người tỵ nạn đổ về Ấn Độ và năm 1961, Penor Rinpoche, với khoảng sáu trăm người, đã di chuyển về phía nam đến Mysore.

Sự thành lập ở Nam Ấn

Mục đích đằng sau việc trốn khỏi Tây Tạng của Ngài Penor Rinpoche là để duy trì ngọn lửa Phật Pháp và giải phóng hữu tình chúng sinh khỏi màn đêm vô minh. Ngay khi đến miền Nam Ấn, Ngài đã dốc toàn bộ sức lực để thiết lập một trung tâm, nơi mà sự trao truyền giáo lý Nyingma có thể được duy trì không gián đoạn, và nơi mà truyền thống Palyul vĩ đại có thể được tái thiết lập. Năm 1963, ở Bylakuppe, Nam Ấn, Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng tu viện Thegchog Namdrol Shedrub Dargyeling.

Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Toàn bộ số tiền mà Ngài có để xây dựng lại cuộc đời, tu viện và truyền thống chỉ là 300 rupee. Nhưng Ngài có một nguồn lực vô tận – lòng dũng cảm và quyết tâm to lớn.

Lúc đó, chỉ có một vài vị tăng. Những người bên ngoài, không thể hiểu được tầm nhìn của Ngài, đã nài nỉ Ngài giảm kế hoạch xây dựng tu viện. Ngày nay, khi hàng trăm vị tăng đổ về sảnh đường và thấy rằng không đủ chỗ cho họ ngồi, người ta chỉ có thể ngạc nhiên trước tầm nhìn xa của Penor Rinpoche từ ba thập kỷ trước.
Rất ít đạo sư ở cấp độ của Penor Rinpoche trải qua những khó khăn mà Ngài phải chịu đựng. Dưới cái nắng của xứ Ấn Độ, Ngài khuôn đá, gạch và cát, và trộn xi măng cho đến khi tay và chân của Ngài chảy máu và bị nhiễm trùng. Thiếu nước và đường xá khiến công việc xây dựng trở nên khó khăn hơn nhiều.

Trong những ngày đầu, Ngài sống trong một túp lều, pha trà Tây Tạng với dầu rẻ tiền, bởi Ngài không có bơ, và nhiều thứ khác. Một người phụ nữ già thấy Ngài đang đào một mình, tạo thành một cái nhà vệ sinh cho một trong các đệ tử đang nhập thất. Khi những người khác thấy Rinpoche làm như vậy, họ nghĩ đến Milarepa và sự vất vả khó nhọc khi xây dựng tháp mười tầng cho con trai của Đạo sư.

Chấn hưng: Các hoạt động trong những năm 1980

Năm này qua năm khác, với nỗ lực và quyết tâm không ngừng nghỉ, Penor Rinpoche đã liên tục làm việc, vượt qua nhiều chướng ngại và khó khăn. Tầm quan trọng của những hoạt động này với việc duy trì truyền thống Tây Tạng là không thể hiểu hay đánh giá hết. Không có nỗ lực chăm chỉ của Pháp vương Penor Rinpoche, chắc chắn những thực hành này có thể bị mất mãi mãi.

Ở tu viện Namdrolling, Ngài đã thiết lập các truyền thống sau đây: Sojong, lễ tịnh hóa một tháng hai lần; Yarney, nhập thất mùa mưa; Gaye, thực hành đặc biệt được tiến hành khi kết thúc Yarney; Một trăm nghìn cúng dường dâng lên chư Bổn tôn an bình và phẫn nộ của Terton Karma Lingpa; Nghi lễ Cúng dường thành tựu Kim Cương Tát Đỏa; Vajrakilaya xua tan ác nghiệp của Terton Ratna Lingpa vào cuối năm cũ; Drupchen Một trăm triệu trì tụng sử dụng các mạn đà la khác nhau trong từng năm; Drupchen cúng dường Anu Yoga của Tsokchen Dupa; Mendrup, và nhiều nghi lễ khác. Trong một trong những buổi lễ Mendrup mà Penor Rinpoche tiến hành, thực hành Nyingtik Palchen Dupa, một số vị tăng đã thấy cầu vồng quanh mạn đà la và cam lồ chảy xuống từ bát sọ người.

Pháp vương quay trở về Tây Tạng lần đầu tiên năm 1982, sau hơn hai mươi năm. Ngài đáp ứng thỉnh cầu của mọi người một cách không mệt mỏi, cả ngày lẫn đêm. Người ta kể rằng một vài hành giả thậm chí đã cố gắng sống đến khi Ngài đến để họ có thể nhận được sự gia trì cuối cùng của Ngài.

Khi ở Tây Tạng, Pháp vương tiến hành rất nhiều hoạt động để duy trì và phát triển Pháp. Ngài phục hồi nhiều tu viện bị phá hủy trong thời Cách mạng Văn Hóa, ban các quán đảnh, trao truyền và giáo lý cho hàng nghìn người. Ngài cũng đặt nền tảng cho tương lai bằng cách truyền giới cho rất nhiều tăng ni.

Trong chuyến đi này và ba chuyến đi sau đó, Pháp vương đã phục hồi giáo lý ở Tây Tạng. Câu chuyện về những điều kỳ lạ xảy ra khi Ngài ở Tây Tạng rất phong phú. Ví dụ, Ngài ban một quán đảnh ở vùng Gonjo thuộc tỉnh Kham cho hàng nghìn người mà không cần đổ đầy bình nghi lễ (bhumpa). Nhưng có lẽ điều kỳ diệu nhất là, từ đống tro tàn, ngày nay tu viện Palyul và các tu viện nhánh ở Tây Tạng đã phát triển trở lại.

Khi ở Tây Tạng, Ngài đã có được nhiều bản văn hiếm và quý từ bộ Nam Cho. Khi trở về Ấn Độ năm 1983, Ngài có hàng trăm bản của Nam Cho mới thu được và trọn vẹn, cũng như kho tàng của Ratna Lingpa và nhiều bản văn quan trọng khác từ truyền thống Palyul.

Năm 1984, Ngài ban những quán đảnh Namcho và kho tàng của Ratna Lingpa đầu tiên ở Ấn Độ. Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai cũng có mặt để thọ nhận những giáo lý này.

Pháp vương cũng tái thiết lập truyền thống Nam Cho với nhập thất thực hành dự bị một tháng hàng năm, nhập thất Tummo Tsa Lung 44 ngày, cũng như nhập thất Trekcho và Togal.

Năm 1985, Pháp vương thành lập trung tâm nhập thất ba năm Samten Osel Ling. Ở đây, Ngài đã đích thân hướng dẫn ba mươi vị tăng trong các khóa nhập thất truyền thống.

Ngài đi đến Mỹ lần đầu tiên vào năm 1985 theo thỉnh cầu của Gyaltrul Rinpoche, và Ngài đã ban các quán đảnh của kho tàng Namcho lần đầu ở phương Tây tại trung tâm nhập thất Tashi Choling. Trong chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm 1988, Ngài ban quán đảnh Nyingma Kama và theo lời thỉnh cầu của Jetsunma Ahkon Lhamo, Ngài đã ban các quán đảnh Rinchen Terdzo tại Kunzang Palyul Choling ở Marylang, cũng là lần đầu tiên ở phương Tây.

Sự ổn định: Đầu những năm 90

Pháp vương Penor Rinpoche bắt đầu xây dựng những hỗ trợ, cả về vật lý và con người, để Pháp sẽ tiếp tục phát triển.

Năm 1990, Ngài thọ nhận giáo lý từ bậc đạo sư nổi tiếng, Khenpo Jigme Phuntsok Rinpoche bao gồm Lama Yangtig, Nge She dron Me. Ngài cũng thọ nhận quán đảnh Tendrel Nyesel, thực hành Vajrakilaya của Lerab Lingpa, cũng như các kho tàng của chính Khen Rinpoche.

Pháp vương dành những năm này để huấn luyện rất nhiều vị tăng, lopon và khenpo, cử họ đến các cộng đồng Hi Mã Lạp Sơn để củng cố thực hành Phật giáo ở những vùng này. Ngài tiếp tục làm việc chăm chỉ để đảm bảo rằng những truyền thống địa phương sẽ không bị mất. Ở một số vùng, bởi sự thiếu vắng các vị thầy được đào tạo thích hợp, những người đã học những kỹ năng ở Tây Tạng, dân cư bắt đầu chuyển sang truyền thống tôn giáo khác. Nhờ có nỗ lực của Pháp vương, các truyền thống ở những vùng này không chỉ được củng cố mà còn trở nên mạnh hơn trước.

Năm 1992, Ngài đến tu viện Palyul lần thứ ba và ban quán đảnh Rinchen Terzod lần thứ ba. Ngài cũng đến những tu viện nhánh của Palyul, làm lợi lạc cho họ bằng giáo lý và hỗ trợ tài chính.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma, theo thỉnh cầu của toàn thể cộng đồng Nyingma, đã bổ nhiệm Ngài làm Bậc trưởng dòng của truyền thống Nyingma vào năm 1993, noi theo bước chân của Pháp vương Dilgo Khyentse Rinpoche và Pháp vương Dudjom Rinpoche. Cùng năm đó, Ngài thành lập Ni viện Tsogyal Shedrub Dargyeling, vào ngày 27 tháng 11.

Pháp vương cũng đến nhiều trung tâm ở Đài Loan, Hồng Kông và Singapore để ban những giáo lý và quán đảnh và hoàn thành kết nối với các đệ tử ở đây.

Sự mở rộng: Cuối những năm 90

Các hoạt động của Pháp vương ở Nam Ấn bắt đầu phát triển và thu được kết quả. Năm 1999, Ngài hoàn thành Orgyen Dongang Shedrup Osel Dargye Ling, “Chùa vàng” của Bylakuppe. Sau đó Ngài hoàn thành việc xây dựng một bệnh viện cho vùng đó, phục vụ không chỉ cộng đồng tu sĩ mà còn cả cư dân địa phương.
Về phía quốc tế, năm 1995, Ngài đến Mỹ để ban giáo lý và quán đảnh ở New York và ban kho tàng Nam Cho của Terton Migyur Dorje ở Kunzang Palyul Choling, Maryland.

Ngài đến Mỹ một lần nữa vào năm 1997, và trong chuyến viếng thăm này, Ngài thành lập Trung Tâm Nhập thất Palyul trong một cộng đồng thôn quê nhỏ bé của McDonough, New York. Để thiết lập Pháp vững chãi ở phương Tây, trung tâm nhập thất này là nơi mà hành giả phương Tây thọ nhận giáo lý và nhập thất mà không cần phải đi quá xa. Pháp vương đã giảng dạy khóa nhập thất truyền thống “Giải thoát trong lòng bàn tay” từ khóa đầu tiên năm 1998 đến năm 2008. Chư tăng tham dự vô cùng ngạc nhiên trước phong cách giảng dạy của Ngài. Có nhiều đệ tử đã dành mười tháng để thọ nhận giáo lý trực tiếp từ Pháp vương Penor Rinpoche trong cuộc nhập thất này.

Pháp vương tiếp tục hoằng pháp khắp nơi, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng trên khắp thế giới. Bao gồm các quán đảnh Rinchen Terzod, Mật điển Kalachakra, Mật điển Guhyagarbha, kho tàng Namcho, toàn bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều giáo lý khác.

Phát triển: Thế kỷ 21

Mặc dù tuổi cao, Pháp vương Penor Rinpoche vẫn tiếp tục các chuyến hoằng pháp, ban những quán đảnh và trao truyền quan trọng khắp nơi trên thế giới, bao gồm Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, nhiều vùng ở châu Á và Âu. Năm 2003, Ngài viếng thăm vùng hẻo lánh Pema Kod và vùng Mon, gia trì cho các ngôi chùa và ban nhiều giáo lý.

Năm 2004, Ngài hoàn thành một bệnh viện. Một trong các nhà tài trợ lớn của tu viện, thường được biết đến là Palmola, đã tài trợ và xây dựng rất nhiều ngôi chùa. Trong đó có chùa Tara, hoàn thành vào những năm 90, nhưng quan trọng hơn là chùa Zangdokpalri. Ngôi chùa này được thánh hóa vào năm 2004.

Năm 2004 là một năm khó khăn với Pháp vương và được tiên đoán là “năm đen đủi” trong đó sức khỏe của Ngài sẽ gặp nguy hiểm. Mặc cho mọi sự khẩn cầu, Pháp vương vẫn tiếp tục với việc hướng dẫn những khóa nhập thất hàng năm về thực hành dự bị, Tsa Lung/Tummo và Dzogchen ở cả Ấn Độ và Mỹ.

Những khóa này bao gồm cả quán đảnh Rinchen Terdzo, Kalachakra, Guhyagarbha, kho tàng Namcho, bộ kho tàng của Ratna Lingpa, Nyingma Kama và nhiều Pháp khác. Hàng năm, Ngài đều tham dự Nyingma Monlam Chenmo, Đại lễ Cầu nguyện được tổ chức ở Bồ Đề Đạo Tràng. Chư tăng được đào tạo bởi Pháp vương chịu trách nhiệm điều phối chính trong sự kiện này.

Viên tịch – 27 tháng 3, 2009

Mặc dù sức khỏe yếu đi, Pháp vương Penor Rinpoche khăng khăng đi hoằng pháp khắp nơi để ban giáo lý và quán đảnh cho tất cả những ai mong muốn thọ nhận. Năm 2008, Ngài tham dự Nyingma Monlam Chenmo, tết Losar ở tu viện Namdrolling, thực hiện chuyến viếng thăm đến Macau, Hồng Kông và tiến hành khóa nhập thất mùa hè ở Mỹ.

Mặc dù kế hoạch giảng dạy bận rộn, Pháp vương không bao giờ ngừng việc nghĩ đến hạnh phúc của những vị tăng trẻ đang được Ngài chăm lo. Vào một sáng tháng Một dịu mát, Ngài bảo một thị giả đưa Ngài đến Bangalore để mua sắm. Khi đến đó, Ngài đặt hàng nghìn chăn mền. Tu viện đã vô cùng lạnh vào mùa đông năm 2008 và Pháp vương muốn chắc chắn rằng không vị tăng nào không có mền ấm.

Ở Bồ Đề Đạo Tràng, sức khỏe của Ngài trở nên yếu hơn. Mặc dù, khi được hỏi, Ngài đáp, Ngài khỏe, nhưng trên thực tế, chính sự tích tập các nhân duyên về nghiệp đã đủ và khiến chúng ta thấy Ngài như vậy.

Những thị giả chí thành đã đưa Ngài đến bệnh viện tốt nhất và đôi lúc, Pháp vương có vẻ đã khỏe lại. Khi Ngài trở về chùa vào sáng Losar, 25 tháng Hai, lần đầu tiên, bệnh tình của Ngài trở nên rõ ràng với mọi người và những giọt nước mắt đã tuôn rơi, thậm chí cả những hành giả cao cấp nhất cũng khóc.

Ngày 24 tháng Ba, bệnh tình của Ngài tệ hơn và Ngài được chuyển đến Bệnh viện Columbia Asia ở Bangalore. Ở đó, tất cả những tulku, khenpo, lopon và đệ tử thân thiết nhất ngồi bên Ngài. Ngài nhìn tất cả một lượt, nhắm mắt và an nhiên thị tịch.

Tái sinh

Với lòng bi mẫn lớn lao dành cho những học trò của Pháp vương, Kyabje Dungse Thinlay Norbu Rinpoche đã hướng dẫn tất cả các đệ tử Palyul tụng đọc lời cầu nguyện bốn dòng, vốn được biên soạn bởi Ngài Khenchen Ngagi Wangpo, trong khi chờ đợi Rinpoche biên soạn một bản dài hơn lời nguyện cầu nguyện Pháp vương sớm tái sinh. Sau đó, ngày 28 tháng Ba, Rinpoche đã thêm 2 dòng vào lời cầu nguyện. Dungse Rinpoche đã hoàn thành lời cầu nguyện và nó đã được tụng đọc vào ngày 9 tháng tư trước Thánh Thân của Pháp vương.

Chỉ trong một đời, Pháp vương Penor Rinpoche đã hoàn thành khối lượng công việc lớn lao. Có rất nhiều điều ở cấp độ bên trong và bí mật chưa thể liệt kê ở đây. Bản tiểu sử này chỉ cung cấp một phần rất nhỏ những gì Ngài đã làm vì mỗi chúng ta, để chúng ta có cơ hội kết nối với trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng. Tất cả những gì Ngài đã làm là để ánh sáng Phật Pháp không rời bỏ thế giới này, tất cả những gì Ngài làm, đều là vì chúng ta, với hy vọng rằng chúng ta sẽ giải phóng tâm khỏi những ác nghiệp và mở rộng trái tim đón nhận chân hạnh phúc. Mong ước duy nhất của Ngài là mỗi chúng ta đều sẽ chứng ngộ và một ngày sẽ giác ngộ. Mọi điều Ngài làm đều là để giúp chúng ta hoàn thành mục tiêu đó.

Pháp vương Penor Rinpoche chắc chắn sẽ trở lại dẫn dắt chúng ta thoát khỏi khổ đau này. Bây giờ chúng ta có thể đơn giản nghĩ rằng, Ngài “thay quần áo” và sẽ trở lại để gia trì thế giới này với lòng từ bi vô lượng, bằng cả những hoạt động bên ngoài cũng như bên trong và bí mật.

Tu viện Namdrolling đã thành lập Hội đồng quản lý các vấn đề của tu viện. Được dẫn dắt bởi Pháp vương Karma Kuchen Rinpoche, bậc trì giữ Pháp tòa thứ mười hai, hội đồng này sẽ tham gia vào quá trình tìm kiếm hóa thân mới của Pháp vương.

Nguồn:http://palyul.org/eng_bio_hh01_recog.htm
Mọi lỗi lầm xin sám hối trước Tam Bảo, Đạo sư và dòng truyền thừa cao quý.
Mọi công đức xin hồi hướng tất thảy hữu tình chúng sinh, cầu nguyện Đức Pháp vương Penor Rinpoche sớm tái sinh.

 

Back To Top